Tin tức


Ô nhiễm không khí tại Hà Nội cảnh báo những nguy cơ về sức khỏe

đăng 21:11, 14 thg 10, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường   [ đã cập nhật 21:20, 14 thg 10, 2019 ]

Hình ảnh Hồ Hoàn Kiếm mờ ảo trong một sáng Chủ Nhật khi người dân đi tập thể dục
Hình ảnh Hồ Hoàn Kiếm mờ ảo trong một sáng Chủ Nhật khi người dân đi

Trong những ngày qua, mối quan tâm của rất nhiều người sinh sống tại Hà Nội là tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng tại thủ đô. Trên các trang mạng xã hội tràn ngập những số liệu về chất lượng không khí, hình ảnh về Tây Hồ, khu vực vốn được coi là trong lành nhất của thành phố cũng mờ mịt ngay từ buổi sáng mà người dân tự chụp hoặc thu thập được cùng những bày tỏ lo lắng và có cả những bình luận hài hước về một nguy cơ mà mọi người đều biết từ lâu nhưng không ai biết làm cách nào để thoát khỏi.

Ngày 01/10, Tổng cục Môi trường của Việt Nam xác nhận ô nhiễm không khí ở Hà Nội cao “vượt quy chuẩn” liên tiếp trong nhiều ngày và khuyến cáo người dân “hạn chế các hoạt động ngoài trời”, theo trang Facebook chính thức mang tên Thông tin Chính phủ và nhiều báo trong nước. Thông báo của Tổng cục Môi trường dẫn số liệu của 13 trạm quan trắc tự động ở Hà Nội, trong đó có 1 trạm của Đại sứ quán Mỹ, cho biết từ ngày 25-29/9, toàn bộ các trạm đều báo là chỉ số bụi siêu mịn PM2.5 vượt quy chuẩn Việt Nam.

Trước tình cảnh “không còn lối thoát” nếu vẫn cứ tiếp tục phải sống tại Hà Nội, không ít gia đình đã sơ tán trẻ nhỏ khỏi thành phố về quê để tránh các nguy cơ bệnh tật do ô nhiễm không khí. Chị Thu Hiền, một cư dân sinh sống tại khu vực Quận Hai Bà Trưng chia sẻ với VOA: “Con bé nhỏ nhà mình thì mình gửi về Nam Định nhờ ông bà trông giùm từ lâu nay rồi… Thực tế thì từ khi cháu về Nam Định sống với ông bà thì sức khỏe tốt hơn, không còn bị các bệnh về đường hô hấp như lúc còn ở Hà Nội nữa. Mẹ con xa nhau nhưng đành phải chịu trong hoàn cảnh như thế này thôi.”

Theo bác sĩ Hồ Văn Hiền, người có gần 50 năm kinh nghiệm điều trị ở ngoại ô thủ đô Washington và có nhiều nghiên cứu liên quan đến những căn bệnh có nguyên do từ ô nhiễm không khí thì ô nhiễm không khí,trong đó đặc biệt là ô nhiễm bụi siêu mịn PM2.5, tức là những loại bụi siêu nhỏ, là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra các căn bệnh nan y.

Bác sĩ Hiền cho biết: “ Việt Nam hiện nay đang đi theo con đường của Trung Quốc vì Trung Quốc đã kỹ nghệ hóa trước chúng ta vài chục năm. Một cô bé Trung Quốc 8 tuổi được ghi nhận ở Trung Quốc là người bị ung thư phổi trẻ nhất ở nước này. Các nhà khoa học cho rằng các hạt bụi siêu mịn này sau khi đi qua đường hô hấp đã đọng lại ở trong phổi em bé và làm cho tế bào nó đột biến thành tế bào ung thư. Cơ quan quốc tế về khảo cứu ung thư đã chính thức công nhận rằng ô nhiễm không khí ngoài trời là có khả năng gây ung thư cho loài người và mỗi năm có chừng 20.000 trường hợp ung thư phổi, chiếm tới 15% các trường hợp ung thư phổi và ảnh hưởng này tác động đặc biệt đến một số đối tượng như trẻ em còn đang là bào thai trong bụng mẹ, thời điểm dậy thì của các thanh thiếu niên…”

Trên các diễn đàn, phần lớn mọi người đều bày tỏ lo ngại về tình trạng ô nhiễm không khí kéo dài tại Hà Nội. Những người có điều kiện thì mua máy lọc không khí để trong nhà sử dụng, và giá thành mặt hàng này đã tăng đáng kể trong thời gian gần đây. Những người không có điều kiện thì tranh thủ dịp cuối tuần đưa cả gia đình ra ngoại thành để ít nhất hai ngày được hít thở không khí sạch hơn so với ở Hà Nội. Anh Đặng Minh Hòa, một cư dân sinh sống ở quận Hoàn Kiếm cho biết: “Cuối tuần nào gia đình tôi cũng phải lên xe đi thật ra, ra các tỉnh lân cận vốn là quê của bạn bè hoặc người thân như Ninh Bình hay Phú Thọ chẳng hạn để vừa là đi dã ngoại vừa là tránh cái ô nhiễm ở Hà Nội. Mình sinh sống làm việc và các con học tập ở đây, không đi đâu được, nhưng ít nhất hai ngày cuối tuần đi xa còn thoát được ô nhiễm…”

Còn anh Đoàn Trần Thành, một Việt kiều mới từ Anh Quốc trở về Hà Nội vì việc gia đình, thì lại chia sẻ sự ngạc nhiên của mình: “Thật sự khi tôi về đây thì không khí quá là ô nhiễm, ở mức gần như là không thể thở nổi vì khói bụi. Môi trường thật sự là quá tệ. Nhưng tôi cũng rất ngạc nhiên khi ra đường thì thấy phần lớn mọi người đều không mang khẩu trang. Có thể họ chưa ý thức được những tác hại lâu dài do hít phải không khí ô nhiễm trong một thời gian dài.”

Theo bác sĩ Hồ Văn Hiền, không chỉ gây ra tác động lên những người bị bệnh tim và bệnh phổi khiến người bệnh chết yểu hay khiến tế bào đột biến gây ra các căn bệnh ung thư cho những người tiếp xúc trực tiếp,ô nhiễm không khí còn để lại những tác hại lâu dài cho nhiều thế hệ sau này.

“Ngay mấy chục năm sau nguy cơ ung thư vẫn còn tiếp tục, ví dụ như là đối với những phụ nữ có chất plastic PCB nó cao sau khi sinh thì có nguy cơ ung thu vú cả 20 năm sau và có khi sau cả vài thế hệ sau, đời cháu chắt dù sau này chúng ta đã cải thiện về môi trường, do tác động trên di thể, tức là ô nhiễm không khí đã tác động đến gene đối với các thế hệ mai sau,” bác sĩ Hiền cũng khuyến cáo thêm.

Không khí Hà Nội ô nhiễm tới ngưỡng gây hại cho sức khỏe

đăng 21:03, 14 thg 10, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

TTO - Những ngày qua, người dân Hà Nội lo ngại khi chỉ số ô nhiễm không khí của Thủ đô có lúc vượt ngưỡng 300. Các chuyên gia môi trường cảnh báo bầu không khí bị ô nhiễm đã tới ngưỡng gây hại cho sức khỏe con người.

Không khí Hà Nội ô nhiễm tới ngưỡng gây hại cho sức khỏe - Ảnh 1.

Ô nhiễm không khí tại Hà Nội ngày 30-9 - Ảnh: NAM TRẦN

Nếu không có biện pháp để bảo vệ môi trường, giữ môi trường trong lành, chất lượng không khí tốt thì con người sẽ là đối tượng đầu tiên phải gánh chịu hậu quả, kế đó là thế hệ tương lai.

Ông Vũ Văn Giáp (phó giám đốc Trung tâm hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai)

Trong ngày, các chỉ số này có biến động nhưng đều ở mức cao. Các chuyên gia môi trường đã đồng loạt lên tiếng cảnh báo về chỉ số chất lượng không khí ở Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng sông Hồng ô nhiễm tới ngưỡng gây hại cho sức khỏe tất cả mọi người.

Nhiều người đổ bệnh

Theo kết quả trên ứng dụng Pam Air và kết quả quan trắc chất lượng tại 10 trạm quan trắc tự động của Sở Tài nguyên - môi trường Hà Nội, nhiều thời điểm trong ngày 30-9 chất lượng không khí suy giảm tới ngưỡng kém và xấu.

Ông Hoàng Dương Tùng, chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, cho biết theo dõi diễn biến lúc 4h-5h sáng 30-9, nồng độ bụi mịn PM2.5 trong không khí rất cao, cao nhất trong mấy ngày gần đây, và cũng là ngày chỉ số chất lượng môi trường ô nhiễm nhất trong dịp gần đây.

"Sau khi trời hửng nắng, mức độ ô nhiễm giảm dần. Đây là một hiện tượng khá bất thường và đáng lo ngại" - ông Tùng cảnh báo. Thậm chí, có thời điểm kết quả quan trắc ở Hà Nội cho thấy một số điểm chất lượng ô nhiễm không khí tới ngưỡng xấu, chỉ số chất lượng không khí (AQI) lên tới trên 200, có điểm như khu vực Xuân Đỉnh, Mai Dịch, chỉ số AQI lên tới 238 - ngưỡng gây hại tới sức khỏe tất cả mọi người.

Ông Vũ Văn Giáp, phó giám đốc Trung tâm hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai - cho hay vào những thời điểm chất lượng không khí xấu, chỉ số ô nhiễm cao thì tần suất bệnh nhân nhập viện do các căn nguyên tim mạch, hô hấp cũng tăng cao.

"Những người bị ảnh hưởng đầu tiên và rõ rệt nhất là người có sẵn bệnh lý tim mạch, hô hấp. Người bệnh thấy khó thở, ho nhiều hơn, kèm theo tức nặng ngực và các dấu hiệu của một đợt bệnh cấp tính" - ông Giáp nói.

Ông Giáp cũng dẫn các nghiên cứu cho đến nay của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cho biết ô nhiễm không khí liên quan tới 30% ca tử vong do ung thư phổi, 25% các ca đột quỵ não và bệnh lý tim mạch. Riêng bệnh lý hô hấp, có đến 435 ca tử vong do bệnh lý hô hấp là có liên quan tới ô nhiễm không khí.

Tương tự, các bác sĩ da liễu và nhãn khoa lo ngại ảnh hưởng của ô nhiễm không khí lên da và mắt. Số người vào viện khám các bệnh lý về da cũng gia tăng gần đây.

Giảm ô nhiễm, được không?

Theo ông Hoàng Dương Tùng, khi chỉ số chất lượng không khí lên tới ngưỡng rất có hại cho sức khỏe mọi người như những ngày vừa qua, bụi mịn sẽ tấn công phổi của con người.

Cụ thể, chỉ số AQI lúc 6h sáng 30-9 tại Hà Nội có nơi lên tới 265, chỉ số bụi mịn PM2.5 là 215,4 µg/m3, cao gấp 8 lần quy chuẩn quốc gia (25 µg/m3) và 20 lần trung bình năm của WHO. Chỉ số của ngày 30-9 cũng cao hơn nhiều so với kết quả đo được vào cùng thời điểm ngày 29-9 với AQI ở mức 179, bụi mịn PM2.5 là 109,3 µg/m3.

Lý giải về nguyên nhân khiến tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội tăng cao đột biến tới ngưỡng gây hại tới sức khỏe tất cả mọi người, ông Tạ Ngọc Sơn, phó trưởng phòng tổng hợp Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội (Sở Tài nguyên - môi trường), cho rằng ngoài các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động giao thông, xây dựng, có nguyên nhân từ điều kiện khí hậu bất lợi, các nguồn ô nhiễm không khuếch tán được.

Ông Sơn cũng cho rằng với các nguồn gây ô nhiễm không khí từ xe cộ, xây dựng, cần phải có lộ trình mới có thể giảm được. Tuy nhiên, những giải pháp về thí điểm hạn chế phương tiện cá nhân với mục tiêu giảm ùn tắc, giảm nguồn phát thải gây ô nhiễm, dư luận cũng chưa ủng hộ.

Ông Sơn cũng cho biết trước tình trạng đốt rơm rạ ở các huyện ngoại thành Hà Nội, Sở Tài nguyên - môi trường đã tổ chức đợt kiểm tra các huyện nhằm tuyên truyền, đề nghị chính quyền địa phương, tổ chức, đoàn thể vào cuộc để ngăn chặn tình trạng đốt rơm rạ.

Trong khi đó, trong khoảng 3 năm qua Hà Nội đã "cắt" dịch vụ công ích là rửa đường, đồng thời không hề có biện pháp giảm phát bụi từ các xe vận chuyển đất đá, công trình xây dựng không tuân thủ quy định che chắn, nhiều tuyến đường của Hà Nội thì liên tục đào lên - lấp xuống, mỗi khi lấp lại hết sức sơ sài, khiến bụi phát sinh. Đây hoàn toàn là lỗi của cơ quan quản lý và chính quyền địa phương, các lực lượng chức năng.

Tag: #Oonhiemmoitruong, cấp phép xả thải

Quế Võ – Bắc Ninh: Hàng trăm hộ mòn mỏi trong môi trường sống bị ‘bức tử’ (!)

đăng 02:13, 14 thg 9, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(NĐ&ĐS) - Người dân thôn Phú Đa, xã Đức Long, huyện Quế Võ ngày ngày đang phải hít thở trong môi trường tràn ngập bụi xỉ than. Nhiều người mắc các căn bệnh về đường hô hấp như hen suyễn, phế quản mãn tính, thậm chí bị ung thư….

Báo điện tử Nhân đạo và Đời sống (Baonhandao.vn) nhận được đơn phản ánh của người dân về việc: Nhiều tháng qua, hàng trăm hộ dân sống tại thôn Phú Đa, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh vô cùng khổ sở do ô nhiễm môi trường từ khói bụi, tiếng ồn của hai doanh nghiệp tư nhân là Công ty 389 và Công ty Thiên Ân chuyên xay nghiền xỉ than, xít than do nhà máy nhiệt điện Phả Lại cung cấp, gây bức tử môi trường sống của hàng trăm hộ dân.

que-vo-1Vị trí xay nghiền xít than và xỉ than lại đặt ngay dưới chân cầu đường sắt

Để mục sở thị, PV đã về tận địa phương và ghi nhận được một số thông tin rằng Công ty Thiên Ân và Công ty 389 đều hoạt động tại bờ sông Cầu, bên trên là tuyến đường sắt kiên cố bắc qua sông Cầu.

Theo quan sát của phóng viên, nơi đây không hề có nhà xưởng hay bộ phận nào che chắn cho khu vực xay nghiền phế thải của hai công ty, mà là bãi sắt cùng xỉ than đen xì. Khi nhà máy hoạt động thì lập tức một màn bụi khổng lồ màu trắng bốc lên như mây theo gió đông nam bay thẳng vào làng Phú Đa, phủ lên cây cối vườn tược, chui vào bể nước sinh hoạt, nhà vệ sinh, mặc dù các cửa của nhà dân đóng kín mít nhưng bụi than vẫn len lỏi vào ngay cả phòng ngủ, chăn màn, đồ dùng trong gia đình.

Trao đổi với PV, bà N. T. D và nhiều người dân vô cùng bức xúc nói: “Từ năm 2018 đến nay, do bị ô nhiễm môi trường bởi hai công ty này gây ra nên nhiều người dân thôn tôi mắc rất nhiều các chứng bệnh về đường hô hấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, cuộc sống bị đảo lộn, trong nhà ngoài sân chỗ nào cũng có bụi than xỉ và tro bay, đặc biệt là những ngày gió lớn thì bụi thổi mù mịt trời đưa vào nhà dân”.

Còn ông N. V. C cho biết thêm: “Dạo gần đây, hai công ty này tăng cường hoạt động xay nghiền, đại diện thôn xóm đã có yêu cầu dừng hoạt động tới phía quản lý của hai công ty với mục đích yêu cầu có biện pháp khắc phục hạn chế khói bụi. Tuy nhiên, hai công ty này không những không có biện pháp khắc phục mà còn hành xử lỗ mãng với người dân, dùng bảo vệ công ty xua đuổi, tệ hơn nữa có kẻ còn dùng đèn pin đập vào đầu người dân gây chấn thương”.

 “Học sinh các trường tiểu học, mẫu giáo, trung học cơ sở trên địa bàn cũng bị vạ lây khi mà không khí ô nhiễm nền nhà, sách vở đang trắng thành đen cho dù đã đóng kín cửa ngồi học.”

que-vo-3 Khói bụi xỉ than bay mù mịt

Người dân còn cho biết thêm, vị trí xay nghiền xít than và xỉ than lại đặt ngay dưới chân cầu đường sắt còn gây nguy hiểm cho an toàn của cầu, vì trong quá trình hoạt động có độ rung lắc lớn và bụi bay mù mịt ảnh hưởng lớn đến an toàn cầu cũng như kết cấu bê tông, như vậy có thể thấy là hai công ty này đang hoạt động trong hành lang bảo vệ cầu.

Cũng theo người dân cho biết, phản ánh của họ đã được gửi lên UBND xã Đức Long và lên Phòng TN-MT huyện Quế Võ nhưng vẫn như muối bỏ bể, người dân chờ mãi chẳng thấy ai xuống làm việc giúp dân.

Để rộng đường dư luận, PV Báo điện tử NĐ&ĐS đã liên hệ làm việc với ông Trần Quang Biều, Chủ tịch UBND xã Đức Long, nhưng khi gặp, vị chủ tịch xã lập tức thoái thác với lý do bận việc đi giải quyết đơn thư khiếu nại rất nhiều nên không tiếp PV được và yêu cầu PV xuống làm việc với phó chủ tịch xã. Tuy nhiên, khi phóng viên quay xuống thì phòng của vị phó chủ tịch này… khóa kín.

Qua sự việc trên, dư luận băn khoăn rằng, chính quyền cơ sở nơi đây bất lực hay cố tình làm ngơ để cho doanh nghiệp mặc sức bức tử môi trường sống trong thời gian dài và gây thảm họa cho dân?

Đề nghị các cơ quan, ban, ngành liên quan thuộc tỉnh Bắc Ninh làm rõ sự việc trên để trả lại môi trường sống trong lành cho người dân.

Baonhandao.vn sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc.

Bùi Tuấn - Trần Cường

Chất lượng không khí, môi trường bên ngoài nhà máy Rạng Đông ở ngưỡng an toàn

đăng 01:50, 14 thg 9, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(ĐCSVN) – “Hiện tại chất lượng không khí, môi trường bên ngoài nhà máy Rạng Đông (bên ngoài khu vực cảnh báo) đã ở ngưỡng an toàn theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế”.​

 

Bộ trưởng Trần Hồng Hà thông tin về chất lượng không khí, môi trường bên ngoài nhà máy Rạng Đông (Ảnh: Khương Trung)

Thông tin trên được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Trần Hồng Hà cho biết tại Hội thảo tham vấn đối tác và chuyên gia quốc tế về các định hướng chính sách lớn trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường do Bộ TN&MT tổ chức, ngày 12/9, tại Hà Nội.

Theo Bộ trưởng  Trần Hồng Hà, đến nay, UBND TP. Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng một số đơn vị liên quan đã rất quan tâm đến vụ cháy Công ty Rạng Đông; đồng thời, thực hiện nhiều biện pháp kiểm soát đánh giá tình hình. Trong đó, các cơ quan môi trường liên tục quan trắc các thông số môi trường để công bố cho người dân được biết.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, kho chứa hoá chất không bị cháy và vật liệu cháy chủ yếu là các bóng đèn, cho nên có thể xác định được khối lượng thủy ngân phát tán ra từ nguồn bóng đèn, nhờ vậy đánh giá được thực trạng môi trường. Hiện tại chất lượng không khí, môi trường bên ngoài nhà máy Rạng Đông (bên ngoài khu vực cảnh báo) đã ở ngưỡng an toàn theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn của Việt Nam và quốc tế.

Về tàn dư vụ cháy trong nhà máy, Bộ trưởng Trần Hồng Hà khẳng định phải xử lý theo quy định về chất thải nguy hại. Các cơ quan chức năng đã tiến hành cô lập, tẩy độc những khu vực đã được cảnh báo. Hiện các chuyên gia từ Nhật Bản cũng được mời đến để cùng xem xét, đánh giá và đưa ra những phương án xử lý.

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng cho biết, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình và Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng giao Chủ tịch UBND TP Hà Nội làm đầu mối thông tin về vụ cháy ở Công ty Rạng Đông; đồng thời cũng giao Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội chủ động phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông để cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về vụ việc./.

Bích Liên

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam

đăng 21:05, 8 thg 8, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(ĐS&PL) Nước là sự sống. Những gì xoay quanh sự sống đều phức tạp và nước cũng như vậy. An ninh nguồn nước của Việt Nam phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề liên quan đến căng thẳng về nước và những rủi ro thiên tai. Trong bối cảnh chất lượng suy giảm và cạnh tranh sử dụng gia tăng, tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) làm cho thách thức về nước trở nên nghiêm trọng, đã đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm nhằm quản lý tài nguyên này một cách hiệu quả.

Nghiên cứu gần đây cho thấy, tình trạng ô nhiễm nguồn nước là nối đe dọa lớn nhất đối với nhiều nền kinh tế. Hiểm họa này dẫn đến tổn thất 3,5 % GDP hàng năm ở Việt Nam. Thông điệp của Ngân hàng Thế giới (W.B) về an ninh nước nhấn mạnh “....tăng trưởng kinh tế bền vững sẽ không thể đạt được nếu không có hành động mạnh mẽ để bảo vệ tài nguyên nước,” (W.B 2019).

Từ thực tiễn diễn ra trên những lưu vực sông và các vùng kinh tế, bài viết đề cập đến nguy cơ ô nhiễm, thực trạng quản lý và giải pháp giảm thiểu dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu và quản lý.

Tổng quan về tài nguyên nước của Việt Nam

Tài nguyên nước là nhân tố quan trọng giúp cho việc định hình và phát triển nền kinh tế. Là một quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, có mùa đông lạnh; nguồn nước dồi dào cùng với chính sách phát triển hợp lý, Việt Nam đã chuyển mình từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành nước có thu nhập trung bình thấp trong vòng 2 thập kỷ.

Nhờ lượng nước có khả năng tái tạo tính theo đầu người hàng năm lên tới 10.200 m3, tài nguyên nước của Việt Nam được đánh giá cao so với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Với 3.500 con sông có độ dài trên 10Km, hình thành 16 lưu vực sông có lượng mưa trung bình trên 2.000mm/ năm , được hỗ trợ bởi gần 7.500 đập trữ và chuyển nước, tài nguyên nước đã góp phần đưa Việt Nam thành một trong những quốc gia xuât khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 1

Với đặc điểm 2/3 tổng lượng nước mặn bắt nguồn bên ngoài lãnh thổ, cùng với mưa, bão bất thường, hơn 70% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng bất lợi bởi thiên tai liên quan tới nước. Trong quá trình phát triển, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, đất nước vẫn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng khi tăng trưởng bị kìm hãm do khan hiếm nước, nông dân nghèo vì năng suất dùng nước thấp, lũ lụt và hạn hán phá hủy sinh kế và sức khỏe con người thường xuyên bị ảnh hưởng bởi tình trạng ô nhiễm.

Tình trạng căng thẳng về nước được ghi nhận theo mùa với sự bất cân đối giữa cung và cầu. 92% tổng lượng nước khai thác dùng vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; nhu cầu nước cho phát triển công nghiệp, giao thông và đô thị gia tăng dẫn đến nguy cơ cạnh tranh sử dụng ngày càng lớn. Nếu tiếp tục phát triển đất nước theo hướng hiện hành, căng thẳng về nước sẽ tập trung vào những vùng đang tạo ra tổng thu nhập lớn nhất.

Theo nhiều dự báo, trong 25 năm tới, nhu cầu sử dụng nước đô thị sẽ tăng gấp đôi. Gia tăng nhanh nhu cầu gây áp lực rất lớn cho nguồn nước của các lưu vực sông chính; đặc biệt là ở khu vực Hồng Hà-Thái Bình, ĐB sông Cửu Long và Đồng Nai, nơi gần 2/3 dân số sinh sống và đóng góp tới 80% GDP của cả nước .

Phân tích hiệu quả sử dụng nước cho thấy, mỗi m3 nước ở Việt Nam tạo ra khoảng 2,37 USD giá trị sản phẩm, chỉ bằng 1/10 mức bình quân trên thế giới. Tạo ra nhiều giá trị hơn trên một đơn vị nước sử dụng đang là thách thức rất lớn đặt ra.

Tài nguyên nước đang phải đối mặt với những đe dọa cả về số lượng và chất lượng. Sự phát triển đất nước kết hợp cùng BĐKH đang tạo ra những thách thức to lớn, đặc biệt là lũ lụt, ô nhiễm và cạnh tranh giữa các ngành sử dụng nước. Theo nhiều tính toán, những thách thức này có thể làm tổn thất tới 6% GDP hàng năm (W.B 2019-2)

Nghịch lý nguồn nước ở Việt Nam là quá nhiều, quá ít và quá bẩn. Nắng nóng, mưa nhiều và tập trung vào những tháng mùa mưa dẫn đến lũ lụt, gây nhiều tổn hại trước hết và nhiều nhất đối với người nghèo. Hạn hán thiếu nước ở nhiều vùng trở nên thường xuyên, đặc biệt khan hiếm nước ngày càng trầm trọng vào những tháng mùa khô. Mặt khác, tình trạng quá nhiều nước thải chưa được thu gom, xử lý đã làm nguồn nước bị ô nhiễm nặng. Ô nhiễm nước đang nổi lên và trở thành những mối đe dọa. Trong đó, nước thải công nghiệp và đô thị là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất. Tác động ô nhiễm nước đến sức khỏe con người được dự báo đến năm 2035 sẽ làm suy giảm đến 3,5% GDP hàng năm (W.B 2019-2).

Cho đến nay, khoảng 12,5% lượng nước thải đô thị được xử lý trước khi xả vào các nguồn nước. Trong 326 khu công nghiệp cả nước, có 220 khu xây dựng hệ thống nước thải tập trung, xử lý được khoảng 71% lượng nước thải phát sinh. Đáng lưu ý là, ở 587 cụm công nghiệp, chỉ có 9,4% có hệ thống xử lý nước thải. Phần lớn nước thải của các hộ trong hơn 5.000 làng nghề chưa được xử lý, nước thải công nghiệp và sinh hoạt đều được xả thẳng vào hệ thống thóat nước mặt.

Cùng với ô nhiễm nước công nghiệp, vấn đề đáng quan ngại là ngành nông nghiêp đang đóng góp một lượng lớn chất thải từ phân bón, mầm bệnh và hóa chất dùng vào sản xuất. Trên 67,6 triệu tấn chất thải chăn nuôi được thải vào môi trường không qua xử lý là nguồn gây ô nhiễm đất, nước và không khí. Ngoài ra, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất với việc lạm dụng phân hóa hoc và thuốc trừ sâu độc hại càng khiến tình trạng ô nhiễm nông nghiệp ngày một thêm nặng nề.

Đi cùng ô nhiễm nước tràn lan, quản lý dòng chảy từ bên ngoài biên giới vào đất nước đang là một trở ngại không nhỏ với gần 95% lượng nước của sông Mekong và trên 40%của lưu vực sông Hồng có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng.

Là một trong những nước hứng chịu thiên tai lớn nhất khu vực Đông Á -Thái Bình Dương, nhiều dự báo cho rằng, sau năm 2040, lượng mưa toàn quốc vào mùa khô sẽ giảm, ngược lại trong mùa mưa lại đạt mức cực đại và ngành dễ bị tổn thương nhất là nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Do bất cập về cơ sở hạ tầng và khả năng chống chịu, thiệt hại về kinh tế hàng năm được xác định khoảng 1,5% GDP, sẽ tăng lên 3% vào năm 2050 và lên tới 7% GDP trong năm 2100. Rủi ro thiên tai gánh chịu còn do tình trạng bảo dưỡng kém và nhất là ô nhiễm nguồn nước ngày càng thêm nặng nề (W.B 2019-2).

Diễn biến ô nhiễm nguồn nước với hiểm họa ngày một gia tăng

Ô nhiễm nguồn nước đang nổi lên và trở thành mối đe dọa kinh tế lớn nhất. Phân tích xu thế phát triển toàn cầu nhiều năm qua cho thấy, ít có tác động nào mang lại lợi ích phát triển nhanh và tức thời như cung cấp nước sạch. Trong nửa cuối thế kỷ XIX, tại nước Anh, mặc dù thu nhập trung bình tăng gấp đôi, điều kiện dinh dưỡng và nhà ở tốt hơn, nhưng tỷ lệ tử vong trẻ em tiếp tục gia tăng. Chỉ khi quốc gia này cải thiện đáng kể về chất lượng cấp nước và vệ sinh thì tuổi thọ trung bình và tỷ lệ sống sót của trẻ em mới tăng lên. Xu hướng này cũng đã diễn ra phổ biến ở nhiều nước những năm gần đây (W.B 2019-2).

Ngày nay, Việt Nam phải đối mặt với gánh nặng phát triển kép do vấn đề chất lượng nước nội tại. Nhiều chất ô nhiễm phát sinh do công nghiệp hóa làm phát sinh dịch bệnh, dẫn đến những rủi ro mới cho năng suất và tăng trưởng. Chất lượng nước ở Việt Nam suy thoái một cách đáng sợ với dấu hiệu của độc tính phát sinh và tăng mạnh từ các thành phố, khu công nghiệp và trong nông nghiệp. Hiện nay, không còn lưu vực sông nào đáp ứng được tiêu chuẩn ô nhiễm hữu cơ đối với nước uống của Tổ chức Y tế Thế giới. Dòng chảy của các con sông qua những thành phố lớn bị ô nhiễm nặng. Nước trong lòng đất bị khai thác quá mức dẫn đến gia tăng độ mặn và nồng độ các chất độc hại. Tình trạng này diễn ra cùng với xâm nhập mặn dẫn đến những tổn thất rất nặng nề.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 2

Ô nhiễm nguồn nước trở thành mối đe dọa kinh tế lớn nhất

Nước thải đô thị Việt Nam đã trở thành tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước lớn nhất. Cùng với nước thải, chất thải rắn phát sinh cũng là mối đe dọa tiềm ẩn đối với nguồn nước do chôn lấp thiếu vệ sinh và nằm gần các nguồn nước. Trong số 660 bãi rác hoạt động, chỉ có 30,7% hợp vệ sinh; những bãi còn lại không thu gom và xử lý nước thải rác gây ô nhiễm mạnh cả đất và nguồn nước. Số liệu ước tính của Bộ Xây dựng về tỷ lệ thu gom chất thải ở khu vực đô thị năm 2018 đạt 86%; cũng theo Bộ này, khoảng 70% chất thải rắn đô thị được thu gom và chôn lấp, tỷ lệ này đối với khu vực nông thôn còn thấp hơn nhiều (Bộ Xây dựng 2019)

Với nhịp độ tăng trưởng nhanh, nhu cầu nước công nghiệp gia tăng mạnh đồng thời với mức độ ô nhiễm cao. Độc tính cùng độ phức tạp của chất gây ô nhiễm làm phát sinh nhiều loại nước thải khó xử lý, trong khi hệ thống xử lý nước thải tập trung cả nước mới đáp ứng được 71% nhu cầu nước thải công nghiệp .

Ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tiêu thụ tới 92% tổng lượng nước, hàng năm sử dụng 11 triệu tấn phân bón (90% là phân vô cơ) với mức sử dụng trung bình từ 195kg đến 200kg NPK/ ha. Đáng chú ý là chỉ có 45%-50% lượng phân bón sử dụng hiệu quả, từ 50% đến 55% bị rửa trội. Cùng với phân vô cơ, lượng thuốc trừ sâu nhập khẩu đã lên khoảng 100.000 tấn/năm với các loại thuốc độc tính cao, để lại trong đất và nước nhiều tồn dư hủy hoại môi trường. Phân vô cơ và dư lượng hóa chất để lại thấm sâu vào lòng đất và trên sông ngòi, kênh rạch gây ô nhiễm nặng nề. Ngoài ra, lượng tồn dư trong nông sản cũng tạo nguy cơ độc hại đối với sức khỏe của người tiêu dùng.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 3

Hình ảnh ô nhiễm nguồn nước tại Việt Nam

Lạm dụng phân bón vô cơ là tác nhân chính làm gia tăng nhanh ô nhiễm ni tơ và phot pho ở những vùng sản xuất nông nghiệp lớn. Thuốc bảo vệ thực vật và các chất gây ô nhiễm sử dụng tràn lan dẫn đến hiệu quả kiểm soát thấp, đồng thời gây hại cho động vật hoang dã và sức khỏe con người. Thực tế diễn ra còn cho thấy, trồng trọt là ngành phát thải khí nhà kính lớn thứ 2 ở Việt Nam. Điều chỉnh việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu hiệu quả sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm và tạo thu nhập cao hơn trong sản xuất nông nghiệp (W.B 2019-2 Tr.46)

Phân tích những hoạt động liên quan đến nguồn nước gây hại cho nền kinh tế và môi trường, giới nghiên cứu nhận thấy, các hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học đang bị đe dọa do phá rừng và sử dụng đất ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn của nước. Tình trạng này đã đẩy môi trường Việt Nam tới ngưỡng giới hạn chịu đựng, đòi hỏi chiến lược quốc gia phải tập trung vào sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả và bền vững, thích ứng với BĐKH thông qua chính sách các bon thấp, quản lý rủi ro thiên tai và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về môi trường.

Ô nhiễm nguồn nước hiện là một trong những thách thức lớn nhất. Tổn hại cho nền kinh tế của nước thải chưa được xử lý rất cao và theo chiều hướng gia tăng. Do nước thải công nghiệp không qua xử lý đổ vào, tại Cần Thơ (thuộc ĐB sông Cửu Long), sản lượng lúa đã giảm tới 12% vào cuối thập niên 2010. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới còn cho thấy, với sản lượng chiếm tới 30% lượng gạo làm ra của mười tỉnh bị ô nhiễm nước thải công nghiệp, ngành nông nghiệp sẽ sụt giảm 3,6% giá trị sản lượng và GDP toàn vùng hàng năm giảm khoảng 0,8%. Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng nông nghiệp, nước thải không qua xử lý còn gây hại cho sức khỏe con người, làm giảm năng lực làm việc và tỉ lệ tử vong cao, kéo theo gánh nặng lớn cho hệ thống y tế (W.B 2019-2 tr. 47).

Tác động của suy giảm năng suất lao động và gia tăng chi phí y tế đã được W.B đánh giá qua mô hình tính cân bẳng tổng thể. Phân tích đã chỉ ra, sự khác biệt giữa các kịch bản không có hành động (với 12,5% lượng nước thải đô thị được xử lý) và có hành động điều chỉnh ( 100% nước thải đô thị được xử lý). Theo kịch bản không hành động, GDP năm 2035 ở mức -3,5% so với phát triển bình thường. Ngược lại ở kịch bản hành động GDP đạt cao hơn 2,3%. Kết quả phân tích còn cho thấy, khi tính đến toàn bộ chi phí xử lý nước thải, tác động tích cực đến nền kinh tế là rất đáng kể, đạt chênh lệch 5,8%GDP và trong ngành nông nghiệp lên tới 9,5% (W.B 2019-2 Tr.48).

Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước từ góc nhìn nghiên cứu và quản lý

Chương trình cải cách toàn diện về xử lý nước thải đô thị và khu công nghiêp đã được Chính phủ phê duyệt trong Nghị định 88/2007/NĐ-CP ban hành năm 2007 và được thay thế bằng Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải ngày 06 thang 8 năm 2014. Tuy nhiên, trong thực thi, tình trạng ô nhiễm nguồn nước vẫn theo chiều hướng gia tăng. Những hạn chế gây ô nhiễm nguồn nước được thể hiện rõ trên các mặt về nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và ở các làng nghề; ô nhiễm do hóa chất và phân bón dùng trong nông nghiệp; kết nối thấp trong mạng lưới thoát nước; bỏ qua khả năng tái sử dụng nước thải; hệ thống pháp lý kém hiệu lực thực thi...

Từ góc nhìn nghiên cứu, chuyên gia Ngân hàng Thế giới tại Viêt Nam cho rằng, lĩnh vực quan trọng cần nghiên cứu là phải xác định vì sao cấu trúc pháp lý và khuyến khích lại chưa hiệu quả? nhằm làm rõ hành động có tác động lớn đến tình trạng ô nhiễm.

Theo giới phân tích, dịch vụ xử lý nước thải là loại dịch vụ công, phần lớn được cung cấp và chi trả từ các cơ quan chức năng nhà nước, có rất ít nhà đầu tư sẵn sàng mạo hiểm bỏ vốn vào thị trường mang lại lợi nhuận còn hạn chế này.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 4

Các nhà nghiên cứu nhận xét, mức độ thương mại hóa thu gom, xử lý và tái sử dụng nước thải công nghiệp được đánh gia đúng sẽ mang lại một phần thu nhập đáng kể. Đánh giá đúng mức vấn đề này sẽ giúp tìm ra mô hình kinh doanh có thể sử dụng và những cải cách pháp lý cần thiết để củng cố và huy động các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào thỏa thuận đầu tư công. Theo đó, tái sử dụng nước trong công nghiệp có thể biến nước thải thành cơ hội kinh doanh thương mại dưới các hình thức đầu tư của các tổ chức công-tư theo thỏa thuận PPP.

Nhằm ứng phó với xu thế ô nhiễm nguồn nước ngày càng mở rộng ở đô thị và nông thôn trong quá trình phát triển, kinh nghiệm học hỏi rút ra từ nhiều quốc gia cho thấy cần có những cải cách để thực thi khung pháp lý, cải thiện giáó dục và áp dụng những ưu đãi cần thiết.

Ngân hàng Thế giới khuyến cáo, tập trung vào cung cấp các lựa chọn kỹ thuật tốt hơn với những sửa đổi cơ chế khuyến khích hành vi không xả thải. Các chương trình của chính phủ nhằm vào thúc đẩy thực hành tốt, nhưng vẫn cần có những giám sát và cưỡng chế, hỗ trợ hợp tác liên ngành để nhân rộng những mô hình tốt, giảm thiểu ô nhiễm.

Học hỏi cách tiếp cận sáng tạo để kiểm soát ô nhiễm nguồn nước từ các quốc gia phải đối mặt với những thách thức tương tự là việc làm cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý. Hướng tiếp cận này tập trung vào những nội dung giám sát và trách nhiệm giải trình, các thể chế tài chính hỗ trợ đầu tư và giảm thiểu nguồn thải phi tập trung.

Để nâng cao khả năng sáng tạo trong hoạt động giám sát và trách nhiệm giải trình, cần phát triển chỉ số sức khỏe nguồn nước (SKNN). Chỉ số SKNN cho phép theo rõi dễ dàng mức độ thay đổi chất lượng nước. Kết hợp cùng các yêu cầu về nước cho hệ sinh thái, chỉ số này được dùng để giám sát chất lượng nước theo yêu cầu bảo vệ môi trường. Điều cốt lõi trong xem xét tác động chất lượng nước đến hệ sinh thái là việc quản lý chất thải rắn. Cần coi quản lý chất thải rắn như một phần của quản lý bền vững tài nguyên nước để; phân loại, xử lý chất thải thành năng lượng hoặc nhiên liệu .

Về trách nhiệm giải trình, chính quyền địa phương trong các lưu vực sông có vai trò quan trọng, Chính quyền tỉnh và UBND các cấp có trách nhiệm quản lý ô nhiễm và xử phạt cần tăng cường trách nhiệm giải trình với việc giao cho kiểm soát trưởng sông ngòi địa phương chịu trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Hiện nay, trách nhiệm thực thi quy định luật pháp đều nằm ở các cơ quan hành pháp, Kinh nghiệm rút ra ở nhiều nước cho thấy, xã hội dân sự, thậm chí là công dân được quyền khởi kiện là nhân tố quan trọng để thúc đẩy thực thi luật pháp bảo vệ môi trường. Do vậy, cần bổ sung một số điều khoản cụ thể vào khung pháp lý để khuyến khích, cho phép xã hội dân sự thực thi các quy định đối với ô nhiễm nước.

Ở một số quốc gia, giao dịch chất lượng nước đã có những thành công trong giảm ô nhiễm từ nguồn nước không tập trung với việc giảm chi phí thủ tục hành chính. Cơ chế tài chính sáng tạo hỗ trợ đầu tư giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước phi tập trung là vấn đề nổi bật. Tại Hoa Kỳ nguồn thải phi tập trung chiếm từ 68% đến 73% tổng tải lượng ô nhiễm. Song ô nhiễm từ nguồn thải này lại rất khó kiểm soát nếu chỉ dựa vào công cụ luật pháp. Các phương pháp định hướng thị trường tạo thuận lợi cho việc chi trả giữa nhà cung cấp dịch vụ và người hưởng lợi. Tiếp cận thị trường bao gồm những giao dịch chất lượng nước, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và quỹ nước có thể giúp đạt chất lượng cao và giảm được chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.

Chi trả dịch vụ hệ sinh thái có thể điều chỉnh ưu đãi trong quản lý tài nguyên thiên nhiên; cách tiếp cận này đã được thử nghiệm ở Việt Nam khi người thụ hưởng hoặc sử dụng một dịch vụ của hệ sinh thái thanh toán trực tiếp hoặc gián tiếp cho nhà cung cấp dịch vụ. Trong ngành nước, dịch vụ hệ sinh thái được thực hiện khi người sử dụng nước hạ nguồn trả tiền cho cho các cộng đồng ở thượng lưu để quản lý và kiểm soát ô nhiễm đầu nguồn nhằm duy trì chất lượng nước tốt.

Quỹ nước cung cấp phương tiện tài trợ đầu tư vào khu vực môi trường nhạy cảm nhằm thay đổi hoạt động của nguồn nước. Quỹ nước được hình thành xung quanh một loạt cơ chế chi trả, bao gồm phí hoặc các khoản người sử dụng nước được hưởng lợi phải đóng góp. Bằng cách đặt trách nhiệm tài chính cho ngươì được thụ hưởng dịch vụ mong muốn, các quỹ nước sẽ tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư trong xử lý ô nhiễm nguồn nước.

Theo hướng tiếp cận thị trường, các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường và cơ quan quản lý nhà nước phải ký hợp đồng với các công ty môi trường để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng nước. Hợp đồng quản lý đảm bảo chất lượng môi trường của các lưu vực sộng với nhiều lựa chọn giúp doanh nghiệp ở nhiều quốc gia tuân thủ tốt tiêu chuẩn chất lượng. Cơ chế này sẽ góp phần nâng cao ý thức chấp hành tiêu chuẩn nước đồng thời giảm được gánh nặng pháp lý cho doanh nghiệp.

Thay lời kết luận

An ninh tài nguyên nước trong phát triển bền vững phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề liên quan đến tình trạng căng thẳng về nước, suy giảm nhanh chất lượng nước, những rủi ro thiên tai và đặc biệt là tình trạng ô nhiễm nguồn nước.

Về những thách thức Việt Nam đang phải đối mặt, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho rằng“Cùng với áp lực gia tăng dân số, tăng trưởng kinh tế và nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao, tài nguyên nước có nguy cơ cạn kiệt” . Ông nhấn mạnh “Những áp lực này sẽ tạo nên các yếu tố kém bền vững cho phát triển, nếu tài nguyên nước không được quản lý một cách thống nhất và được chia sẻ, khai thác một cách hợp lý, hiệu quả.”( W.B 2019)

Để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, cần nhận thức rõ nước là nguồn tài nguyên quý giá duy trì sự sống, thúc đẩy thịnh vượng và tăng cường tiện nghi cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Bằng cách cân nhắc những đánh đổi, coi trọng giá trị của nước có thể cân bằng được nhiều mục đích sử dụng và dịch vụ do nước cung cấp một cách bền vững và công bằng.

Ô nhiễm nguồn nước là một rủi ro to lớn, việc quản lý tài nguyên nước hiệu quả có thể mang lại cơ hội để biến rủi ro thành khả năng thích ứng, thành phúc lợi và hệ sinh thái đang suy thoái trở nên bền vững hơn. Hy vọng những nhìn nhận khách quan của W.B, một đinh chế tài chính toàn cầu, về ô nhiễm nguồn nước đối với phát triển bền vững sẽ là tài liệu tham khảo có ích đối với các nhà hoạch định chính sách phát triển nước nhà./.

TS. Lê Thành Ý và ThS. Vương Xuân Nguyên

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước

đăng 20:39, 8 thg 8, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Ngày 7/8, Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM cùng các đơn vị có liên quan đã mời người dân các quận huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Quận 7 xuống Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước để giám sát hoạt động của các nhà máy tại đây.

Mùi nồng nặc, dân không dám xuống xe

Người dân lần lượt đi khảo sát thực tế tại 3 công ty đang hoạt động trong Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước gồm: Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS), Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh (xử lý bùn cống) và Công ty CP-DV Môi trường đô thị Hòa Bình (xử lý phân bùn hầm cầu).

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 1
Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 2
Người dân vào nhà máy Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh phải bịt khẩu trang vì mùi hôi nồng nặc. 

Sau khi được đoàn đưa đi thực tế tại nhà máy Công ty Sài Gòn Xanh và Công ty Hòa Bình (xử lý phân bùn cầu), ông Nguyễn Thành Mỹ (xã Phong Phú, huyện Bình Chánh) cho biết, nhà cách công ty chỉ 200m, đang dọn cơm ăn mà mùi hôi bay đến là bỏ chạy. Mỗi ngày bị ảnh hưởng mùi hôi nên rất lo lắng cho sức khỏe.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 3Ông Nguyễn Thành Mỹ (xã Phong Phú, huyện Bình Chánh).

Ngoài ra, việc trồng trọt, chăn nuôi của gia đình cũng bị ảnh hưởng bởi nguồn nước bị ô nhiễm. Ông Mỹ đề nghị cơ quan chức năng và công ty sớm trồng cây xanh cách ly, cũng như di dời nhà ông và một số hộ dân đang nằm trong ranh quy hoạch trồng cây xanh cách lý.

Bà Nguyễn Hồng Thu (cư dân quận 7) bức xúc cho biết, ở nhà thi thoảng vẫn ngửi được mùi phân tươi rất nồng nặc. Đến hôm nay, sau khi vào nhà máy Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh (xử lý bùn cống), chúng tôi xin khẳng định chính mùi hôi này.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 4Bà Tô Hồng Trang (cư dân quận 7).

Bà Tô Hồng Trang (cư dân quận 7) cho biết, khi đi thực tế nhà máy thì có mùi hôi rất nồng nặc, dù ngồi trên xe ô tô nhưng mùi hôi vẫn bay vào xe thì không thể nói mùi hôi xuất phát từ quá trình vận chuyển được. Bà Trang đề nghị phía Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh phải xử lý, ngăn chặn mùi hôi phát tán ra môi trường.

Dân nói gì về bãi rác Đa Phước?

Tại Cty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS), người dân các quận huyện Nhà Bè, Bình Chánh, quận 7 được công ty chở đi tham quan khu vực chôn lấp, khu xử lý nước thải, khu phân loại rác và nhà máy thu khí ga phát điện…

Đại diện VWS thừa nhận vì chưa có hệ thống vành đai cây xanh cách ly (do TPHCM chưa thực hiện) và nguồn rác từ phân loại tại nguồn chưa thực hiện được nên chưa thể giảm khối lượng chất thải chôn lấp cũng như mùi hôi.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 5Người dân các quận huyện Nhà Bè, Bình Chánh, quận 7 được công ty chở đi tham quan tại Cty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS).

Phía công ty VWS có hệ thống khửi mùi hoạt động liên tục trên bãi chôn lắp. Hệ thống bao gồm giàn phun xịt mùi hôi và máy phun khửi mùi hôi áp lực, với công suất cao.

“Công ty vận hành liên tục 24/24h dưới sự giám sát thường xuyên của thành phố. Việc giám sát mùi hôi được tăng từ 3 lần/ngày lên 5 lần/ngày”, đại diện VWS nói với người dân khi tham quan trên bãi rác.

Trở về sau chuyến đi thực tế, phần lớn người dân cho biết, bãi rác đã không còn mùi hôi nồng nặc như trước, mà chỉ hôi nhẹ nhờ khâu xử lý mùi hôi của công ty đang làm tốt.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 6Công nhân làm việc trên bãi chôn lấp rác.

Ông Phạm Văn Hai (ngụ huyện Bình Chánh) cho biết, đây là lần thứ 2 ông vào nhà máy và thấy công ty khắc phục, khống chế mùi hôi tốt hơn so với trước đây rất nhiều.

Đồng cảm nhận từ chuyến đi lên bãi chôn lấp rác, ông Nguyễn Ngọc Minh (ngụ huyện Nhà Bè) cho biết, từ xưa giờ chỉ nghe thông tin bãi rác chứ chưa bao giờ vào. Đây là lần đầu tiên vào bên trong nhà máy xử lý rác. Lúc trước thì người dân phản ánh có mùi hôi nhưng từ hơn 1 năm nay thì mùi hôi giảm đi, không còn nặng như trước.

“Hôm nay lên đến bãi chôn lấp rác, tôi không ngửi thấy mùi hôi là mấy. Công ty xử lý mùi hôi tại bãi tốt và mong rằng phía công ty sẽ có nhiều giải pháp hơn để người dân sống xung quanh không bị ảnh hưởng”, ông Minh đề nghị.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 7Ông Nguyễn Văn Phê ngụ huyện Nhà Bè

Ông Nguyễn Văn Phê (ngụ huyện Nhà Bè) cho biết, khi đến đây thấy môi trường sinh hoạt rất tốt. Cách đây hơn 10 năm, ông làm việc gần bãi rác nên có biết mùi hôi ở đây rất khó chịu.

“Tuy nhiên, thời gian gần đây thì không có. Bữa nay tôi qua đây khảo sát thực tế mấy điểm trong nhà máy thì thấy rất tốt. Ngay cả nước sau khi xử lý từ nước rỉ rác cũng được anh bạn của tôi uống, không sao”, ông Phê nói.

Ông Nguyễn Trọng Hùng (ngụ quận 7) nói rằng người dân cảm nhận mùi hôi từ các giác quan nên thấy sao nói vậy. Cuộc sống người dân khác trước vì ảnh hưởng bởi mùi hôi. Tuy nhiên, từ năm ngoái đến năm nay, mùi hôi có giảm nhưng thi thoảng vẫn còn. Đặc biệt là buổi chiều và tối.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 8Ông Nguyễn Trọng Hùng (ngụ quận 7)

“Khi đi tham quan thực tế Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam, chúng tôi ghi nhận công nghệ xử lý rác của công ty. Chúng tôi mong muốn chính quyền thành phố và công ty công khai dữ liệu quan trắc môi trường không khí, nước để người dân biết và giám sát”, ông Hùng đề nghị.

Bà Tô Hồng Trang (ngụ quận 7) thì rằng việc Sở Tài nguyên và Môi trường mời người dân giám sát trong khung giờ nhất định chưa phản ánh được đánh giá mùi hôi. Từ đây, bà Trang đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương tổ chức đường dây nóng để nhận phản ánh của người dân. Từ đó cơ quan chức năng đến ngay vị trí người dân phản ánh để kiểm tra, xác minh.

Kết thúc buổi giám sát, ông Lê Trung Tuấn Anh, Trưởng phòng quản lý chất thải rắn (Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM) cho biết, tất cả ý kiến của người dân sẽ được tổng hợp kiến nghị UBND TPHCM. Trong đó lưu ý những giải pháp trước mắt và lâu dài liên quan đến vấn đề xử lý rác của thành phố.

Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM cho biết, thành phố dự kiến tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư triển khai công nghệ đốt rác phát điện với công suất 2000 tấn/ngày. Qua đó, đề nghị VWS sớm hoàn thiện đề án chuyển đổi công nghệ đốt rác phát điện.

Về vấn đề này, VWS cho biết đã trình đề án cho cơ quan chức năng nhưng hiện thành phố chưa phê duyệt. Nếu được phê duyệt thì VWS sẽ triển khai ngay

Trước phản ánh của người dân về mùi hôi, ông Lê Trung Tuấn Anh đề nghị Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh ghi nhận phản ánh của người dân và sớm có giải pháp bổ sung đề mùi hôi của nhà máy không ảnh hưởng đến người dân sống xung quanh.

VĂN MIN

Xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về giảm rác thải nhựa đại dương đến năm 2030

đăng 20:24, 8 thg 8, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về giảm rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Chú thích ảnhRác thải tồn đọng tại Hòn Sơn (xã đảo Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang). Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN

Đây là một nội dung quan trọng để giải quyết vấn đề rác thải nhựa đại dương ở Việt Nam cũng như khu vực và trên toàn thế giới. 

Tiến sĩ Tạ Đình Thi, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết, bên cạnh những cam kết chính trị mạnh mẽ và nhiều hoạt động thiết thực trong quản lý, giảm rác thải nhựa, trong đó có rác thải nhựa đại dương, Chính phủ đang quyết liệt thực hiện các chính sách và giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa, nhất là sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông khó phân hủy. Trong đó chú trọng giảm thiểu việc sử dụng, tăng cường tái sử dụng, tái chế sản phẩm nhựa, thúc đẩy xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh.

Mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia về rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 nhằm quản lý được rác thải nhựa đại dương từ nguồn thải trên đất liền và nguồn thải ở biển, theo cách tiếp cận nền kinh tế tuần hoàn, đưa Việt Nam trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực về giảm thiểu rác thải nhựa đại dương. Đồng thời tạo đột phá và chuyển biến căn bản về nhận thức, ứng xử và hành vi của toàn cộng đồng trong sản xuất, tiêu dùng, thải bỏ sản phẩm nhựa và thu gom, xử lý rác thải nhựa. 

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2025 xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách phục vụ quản lý rác thải nhựa đại dương; giảm thiểu 50% rác thải nhựa đại dương; 50% ngư cụ đánh bắt cá bị mất hoặc bị vứt bỏ sẽ được thu gom; 80% các khu du lịch, dịch vụ ven biển không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông khó phân hủy; 80% các khu bảo tồn biển không còn rác thải nhựa. Thực hiện việc quan trắc hằng năm và định kỳ đánh giá hiện trạng rác thải nhựa đại dương tại một số cửa sông chính, đảo tiền tiêu, có tiềm năng phát triển du lịch. Thực hiện các nghiên cứu khoa học chuyên sâu về tác động của rác thải nhựa đại dương, đặc biệt là vi nhựa  (hạt nhựa nhân tạo có khích thước nhỏ) đến tài nguyên, môi trường, các hệ sinh thái biển và sức khỏe con người. Xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm quốc tế về rác thải nhựa đại dương. Thiết lập, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về rác thải nhựa đại dương, tích hợp, chia sẻ với khu vực và quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu 100% các khu du lịch, dịch vụ ven biển không sử dụng các sản phẩm nhựa sử dụng một lần và túi ni lông khó phân hủy; chấm dứt việc thải bỏ ngư cụ trực tiếp xuống biển; hạn chế cơ bản việc nhập khẩu phế liệu nhựa làm nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp tại các khu chế xuất, khu công nghiệp ven biển; giảm thiểu 75% rác thải nhựa đại dương; 100% các khu bảo tồn biển không còn rác thải nhựa; mở rộng quan trắc hằng năm và định kỳ đánh giá hiện trạng rác thải nhựa đại dương tại các cửa sông chính, các đảo tiền tiêu, có tiềm năng phát triển du lịch.

Trong nội dung Dự thảo Kế hoạch hành động quốc gia về rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 đề ra 7 nhiệm vụ chủ yếu. Đó là tuyên truyền, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, ứng xử với các sản phẩm nhựa và rác thải nhựa đại dương; rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý rác thải nhựa đại dương; ngăn ngừa, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương từ đất liền; ngăn ngừa, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương từ nguồn thải trên biển; tăng cường xã hội hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động làm sạch, thu gom rác thải nhựa và rác thải nhựa đại dương; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển, chuyển giao công nghệ về rác thải nhựa đại dương; tăng cường hợp tác quốc tế về quản lý rác thải nhựa đại dương.

Dự thảo Kế hoạch cũng đã nêu ra 5 giải pháp chủ yếu, bao gồm triển khai các chương trình, kế hoạch tuyên truyền nâng cao nhận thức; nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và phối hợp của các cấp, các ngành, các cơ quan; huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để triển khai thực hiện Kế hoạch; đào tạo, tập huấn nâng cao kinh nghiệm năng lực cho đội ngũ cán bộ của các tổ chức quản lý, nghiên cứu và tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về rác thải nhựa đại dương.

Nhật Minh (TTXVN)


Quảng Ninh: Tăng cường giám sát môi trường qua hệ thống quan trắc tự động tại các KCN

đăng 03:06, 25 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(TN&MT) – Công tác bảo vệ môi trường nhất là tại các khu công nghiệp (KCN) luôn được tỉnh Quảng Ninh xác định với phương châm mang tính “sống còn” đó là phát triển sản xuất phải gắn với bảo vệ môi trường. 

Thời gian qua, Sở TN&MT Quảng Ninh đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt trong việc đôn đốc, giám sát các doanh nghiệp trong việc đầu xây dựng các trạm xử lý nước thải tập trung, cũng như lắp đặt hệ thống quan trắc tự động góp phần bảo vệ môi trường tại các KCN.

A 1Trạm xử lý nước thải công nhiệp tại KCN Texhong Hải Hà đi vào hoạt động từ năm 2016.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 5 KCN đang hoạt động và đều đã đầu tư lắp đặt hệ thống xử lý nước thải tập trung đảm bảo thu gom toàn bộ nước thải phát sinh tại các KCN. Cụ thể, 5 KCN gồm: Cái Lân, Hải Yên, Đông Mai, Việt Hưng, Texhong Hải Hà. Trong đó có những KCN lớn, thu hút hàng trăm doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh với hàng chục vạn công nhân, người lao động làm việc tại đây.

Điển hình như KCN Cái Lân, tại TP Hạ Long là KCN được hình thành và xây dựng sớm nhất của tỉnh Quảng Ninh, ngay từ năm 2002, Chủ đầu tư KCN Cái Lân là Công ty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh đã đầu tư xây dựng hạ tầng và triển khai xây dựng trạm xử lý nước thải giai đoạn I với quy mô 2.000 m3/ngày đêm. Hiện nay, Trạm xử lý nước thải tập trung KCN giai đoạn I được vận hành ổn định với công suất khoảng 500-700 m3/ngày đêm, đảm bảo thu gom, xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh từ KCN Cái Lân giai đoạn I. Tiếp đó, năm 2018, Đề án đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đổi mới quản lý vận hành KCN Cái Lân đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt. Cụ thể, UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo thành lập tổ công tác gồm đại diện các sở, ngành liên quan hướng dẫn Công ty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh thực hiện các nội dung liên quan, trong đó có nhiệm vụ đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung đảm bảo cho hoạt động của KCN với công suất khoảng 6.000 m3/ngày đêm, nâng tổng công suất lên 8.000 m3/ngày đêm.

A 2Trạm xử lý nước thải công nhiệp tại KCN Texhong Hải Hà đi vào hoạt động từ năm 2016.

 Hay như với KCN Texhong Hải Hà, tại huyện Hải Hà, theo quy hoạch, Trạm xử lý nước thải tập trung của KCN Texhong Hải Hà (giai đoạn 1) gồm 5 mô-đun 10.000m3/ngày đêm(5x10.000m3/ngày đêm) và 1 mô-đun 6.000m3/ngày đêm. Từ tháng 6/2016, Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam vận hành trạm 6.000m3/ngày đêm. Hiện Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam đã xây dựng xong 1 trạm xử lý nước thải công suất 10.000 m3/ngày đêm, đang trong quá trình vận hành thử nghiệm.

Song song với việc đôn đốc các KCN xây dựng hoàn thiện các Trạm xử lý nước thải, thời gian qua, Sở TN&MT Quảng Ninh đã quyết liệt trong việc yêu cầu các KCN, doanh nghiệp lắp đặt hệ thống quan trắc tự động nước thải công nghiệp tại các KCN. Đến nay đã có 4/5 KCN hoàn thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải công nghiệp. Cụ thể như: KCN Cái Lân KCN Việt Hưng, KCN Texhong Hải Hà giai đoạn 1 đã hoàn thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải KCN và truyền dữ liệu trực tiếp, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường. Còn KCN Hải Yên đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, hiện đang thực hiện các yêu cầu kỹ thuật để kết nối dữ liệu trực tiếp, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường. Đối với KCN Đông Mai, chủ đầu tư hạ tầng KCN sẽ được đầu tư đồng thời trong quá trình xây dựng Trạm xử lý nước thải giai đoạn I và hoàn thành trong năm 2019.

Tuy nhiên, sau một thời gian đi vào hoạt động, nảy sinh một số khó khăn, do hoạt động quan trắc tự động là loại hình mới, trong quá trình vận hành của các cán bộ tại các KCN chưa vận hành đảm bảo theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, quy trình chuẩn vì thế hầu hết các đơn vị đều gặp các sự cố dẫn đến kết quản quan trắc không phản ánh đúng tình trạng xả thải của các đợn vị.Thậm chí, dữ liệu quan trắc môi trường tự động truyền về Sở TN&MT còn vượt giới hạn cho phép như: Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam, Công ty CP Phát triển khu công nghiệp Việt Hưng...

Trao đổi với PV, Phó Giám đốc Sở TN&MT Quảng Ninh, ông Phạm Văn Cường cho biết, để khắc phục các tồn tại nêu trên và đảm bảo hoạt động quan trắc môi trường tự động kịp thời thời theo dõi giám sát hoạt động xả khí thải, nước thải theo đúng quy định. Thời gian qua, Sở TN&MT Quảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các đơn vị sản xuất, kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng phải lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động truyền dữ liệu về đơn vị. Đối với trạm quan trắc môi trường tự động tại các KCN, khẩn trương hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, truyền số liệu liên tục về Sở đúng thời hạn theo quy định. Với công trình bảo vệ môi trường, phải vận hành hệ thống xử lý khí thải, nước thải theo đúng quy trình vận hành của hệ thống, ghi chép đầy đủ nhận ký vận hành.Đồng thời, Sởsẽ tổ chức giám sát đột xuất hoạt động vận hành hệ thống xử lý nước thải, khí thải và hệ thống quan trắc môi trường tự động và kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Phạm Hoạch

Tag: Quan trắc môi trường, cấp phép xả thải, gia hạn xả thải,

Thủ tướng phê duyệt đề án Đoàn Thanh niên tham gia bảo vệ môi trường

đăng 03:25, 23 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Thu tuong phe duyet de an Doan Thanh nien tham gia bao ve moi truong hinh anh 1Các Đoàn viên, thanh niên đang tích cực dọn rác ở bãi biển trong chiến dịch Hãy làm sạch biển năm 2019. (Ảnh: Văn Dũng/TTXVN)

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2019-2022.”

Đề án nhằm nâng cao nhận thức và hướng tới thay đổi hành vi cho thanh thiếu niên nói riêng và nhân dân nói chung trong việc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hàng năm, 100% tổ chức Đoàn các cấp tổ chức ít nhất 1 hoạt động tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; 100% chi đoàn trên địa bàn dân cư đăng ký đảm nhận và triển khai thực hiện “Tuyến đường sáng-xanh-sạch-đẹp;" các cấp bộ Đoàn triển khai hiệu quả Chương trình “Vì một Việt Nam xanh,” tổ chức trồng mới 30 triệu cây xanh.

Triển khai thực hiện 200 công trình thanh niên cấp tỉnh, 1.600 công trình thanh niên cấp huyện về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; hỗ trợ 1.000 ý tưởng khởi nghiệp, các mô hình khởi nghiệp, lập nghiệp của thanh niên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; hỗ trợ xây dựng 250 nhà tránh lũ cho các hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực miền Trung.

Đa dạng các hình thức tuyên truyền

Một trong các giải pháp thực hiện Đề án là tổ chức các hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó, tuyên truyền trực quan như sử dụng hệ thống băng rôn, khẩu hiệu, tờ rơi; biên tập và phát hành các tài liệu sinh hoạt chi đoàn-chi hội-chi đội…

Bên cạnh đó, tuyên truyền trên báo chí, phát thanh, truyền hình: Xây dựng các chuyên mục dài kỳ, phóng sự truyền hình, viết tin, bài phản ánh về hoạt động tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu của thanh niên trên hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương; tổ chức các chương trình truyền hình thực tế, các chương trình truyền hình tương tác về bảo vệ môi trường giữa đoàn viên, thanh niên và người dân trên truyền hình.

Về tuyên truyền trên mạng xã hội và các phương tiện truyền thông hiện đại, xây dựng bộ sản phẩm tuyên truyền hiện đại về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và triển khai phần mềm tra cứu thông tin về môi trường, thông tin cảnh báo thiên tai, thông tin về giải pháp, công nghệ bảo vệ môi trường.

[Hừng hực khí thế ra quân Chiến dịch ""Hãy làm sạch biển"" năm 2019]

Hàng năm, phát động và triển khai chiến dịch truyền thông thông qua tổ chức các chiến dịch, diễn đàn, tọa đàm, cuộc thi, hoạt động của thanh niên để hưởng ứng các sự kiện về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; thiết kế, biên tập và in các ấn phẩm truyền thông về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thành lập các đội tuyên truyền viên về bảo vệ môi trường của thanh niên tham gia tuyên truyền, vận động, thuyết phục người dân địa phương thay đổi hành vi, thói quen, tập quán sinh hoạt gây hại đối với môi trường.

Xây dựng, nhân rộng các mô hình về bảo vệ môi trường

Giải pháp khác của Đề án là xây dựng, nhân rộng các mô hình về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong đoàn viên, thanh niên.

Thu tuong phe duyet de an Doan Thanh nien tham gia bao ve moi truong hinh anh 2(Ảnh: Văn Dũng/TTXVN)

Cụ thể, tiếp tục triển khai hiệu quả và xây dựng, nhân rộng các mô hình, công trình thanh niên tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp, các mô hình khởi nghiệp, lập nghiệp của thanh niên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; vận động đoàn viên, thanh niên sử dụng các nguyên vật liệu đầu vào của sản xuất thân thiện với môi trường, thực hiện xả thải đúng quy định, xây dựng các mô hình kinh tế xanh; hướng dẫn thành lập và duy trì các tổ hợp tác, hợp tác xã thanh niên hoạt động trong lĩnh vực môi trường; hướng dẫn thành lập và duy trì hoạt động của các đội hình thanh niên xung kích tham gia làm sạch bờ biển; các đội hình thanh niên tình nguyện chuyên sâu phòng chống thiên tai, hỗ trợ người dân trong xử lý sự cố môi trường; các câu lạc bộ thanh niên tình nguyện về bảo vệ môi trường...

Bên cạnh đó, xây dựng, nhân rộng các mô hình về ứng phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể, triển khai chương trình “Vì một Việt Nam xanh,” xây dựng các mô hình điểm về trồng trọt ứng phó với biến đổi khí hậu, tiết kiệm điện, năng lượng; xây dựng nhà tránh lũ và các công trình bể chứa nước, bể lọc nước… cho đoàn viên, thanh niên và người dân tại các khu vực miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên bị ảnh hưởng của bão, lũ; triển khai các hoạt động hỗ trợ nhân dân thích ứng với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long./.

(TTXVN/Vietnam+)

Công ty Thoát nước nói gì khi xả nước làm trôi kết quả thí điểm trên sông Tô Lịch?

đăng 03:21, 22 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Moitruong24h - Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng sau đợt xả nước, toàn bộ sinh vật có lợi bị cuốn trôi khỏi khu thử nghiệm trên sông Tô Lịch. Công ty Thoát nước Hà Nội cho biết không nhận được phản hồi gì từ phía đơn vị đang thí điểm.

Sông Tô Lịch thay đổi khác lạ sau khi nhận hơn 1 triệu m3 nước từ hồ Tây. Ảnh TT

Sông Tô Lịch thay đổi khác lạ sau khi nhận hơn 1 triệu m3 nước từ hồ Tây. Ảnh TT

Về phản ánh khi xả hơn 1 triệu m3 nước từ Hồ Tây vào, toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã bị cuốn trôi, ông Lê Vũ Quảng Sương - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết: "Phía đơn vị thí điểm đưa ra nhiều nguyên nhân để lùi thời gian lấy mẫu kết quả, trong đó có nguyên nhân do xả nước từ Hồ Tây vào sông Tô Lịch. Điều này tôi thấy bình thường và họ cũng không có phản ứng gì trực tiếp với bên công ty".

Ông Sương cho rằng, việc xử lý, giải quyết ô nhiễm của con sông Tô Lịch và phòng chống úng ngập của thành phố phải song song.

"Về việc thử nghiệm công nghệ Nhật Bản để làm sạch sông Tô Lịch, theo tôi hoạt động này phải đảm bảo hoạt động bình thường, an toàn của hệ thống thoát nước của thành phố", ông Sương nói.

Theo lãnh đạo công ty Thoát nước Hà Nội, vấn đề xử lý ô nhiễm ở sông Tô Lịch là việc được thành phố quan tâm và phía công ty cũng rất coi trọng.

Trao đổi về việc xả hơn 1 triệu mét khối nước từ Hồ Tây vào sông Tô Lịch, ông Sương khẳng định: "Thực hiện công tác phục vụ thoát nước mùa mưa theo quy định đơn vị này phải hạ mực nước đệm trên hệ thống ao hồ của TP, trong đó có hồ Tây.

Mực nước của hồ Tây (rộng khoảng 500 ha) đang cao hơn quy định khoảng 25 cm. Công ty Thoát nước Hà Nội thực hiện xả để đưa mực nước hồ Tây xuống mức bình thường là đúng quy định vận hành.

Trước đó, Tiến sĩ Tadashi Yamamura - Chuyên gia Liên Hợp Quốc về môi trường, Chủ tịch Tổ chức xúc tiến Thương mại - Môi trường Nhật Bản vừa chính thức gửi Công văn tới Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND TP. Hà Nội, các Sở, ngành, đơn vị liên quan đề nghị lùi thời gian lấy mẫu, đánh giá và công bố kết quả giai đoạn thí điểm làm sạch sông Tô Lịch.

Đề cập đến lý do xin lùi thời gian lấy mẫu đánh giá, Tiến sĩ Tadashi Yamamura cho hay, khi kiểm tra hệ vi sinh vật của tấm Bioreactor đặt tại vị trí thí điểm làm sạch sông Tô Lịch, các chuyên gia Nhật Bản phát hiện toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã bị cuốn.

"Trong 3 ngày (9-12.7.2019), khoảng hơn 1,5 triệu m3 nước Hồ Tây đã được xả trực tiếp vào đầu nguồn sông Tô Lịch - nơi có khu thí điểm làm sạch nước sông Tô Lịch của dự án chúng tôi đang thực hiện. Chúng tôi đánh giá rằng, đây là nguyên nhân khách quan và đảm bảo an toàn cho thành phố trong mùa mưa, nên việc xả nước là theo đúng quy định của UBND Thành phố.

Tuy nhiên, sau đợt xả nước, khi chuyên gia Nhật Bản kiểm tra hệ vi sinh vật của tấm Bioreactor thì thấy toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã trong chốc lát bị cuốn trôi và không còn ở khu 300m để đánh giá"- Tiến sĩ Tadashi Yamamura cho biết.

Chuyên gia Nhật Bản cũng cho biết thêm, gần như họ phải làm lại từ đầu và cần thời gian tối thiểu trên 1 tháng để kích hoạt trở lại hệ vi sinh vật có lợi thì lấy mẫu đánh giá ở khu vực thí điểm mới chính xác, khách quan.

 "Chúng tôi hiểu việc xả nước từ Hồ Tây là công việc thoát lũ mùa mưa để đảm bảo an toàn theo đúng chủ trương và chỉ đạo của UBND Thành phố. 

ANH THƯ/Laodong

1-10 of 407