Tin tức


Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam

đăng 21:05, 8 thg 8, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(ĐS&PL) Nước là sự sống. Những gì xoay quanh sự sống đều phức tạp và nước cũng như vậy. An ninh nguồn nước của Việt Nam phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề liên quan đến căng thẳng về nước và những rủi ro thiên tai. Trong bối cảnh chất lượng suy giảm và cạnh tranh sử dụng gia tăng, tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) làm cho thách thức về nước trở nên nghiêm trọng, đã đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm nhằm quản lý tài nguyên này một cách hiệu quả.

Nghiên cứu gần đây cho thấy, tình trạng ô nhiễm nguồn nước là nối đe dọa lớn nhất đối với nhiều nền kinh tế. Hiểm họa này dẫn đến tổn thất 3,5 % GDP hàng năm ở Việt Nam. Thông điệp của Ngân hàng Thế giới (W.B) về an ninh nước nhấn mạnh “....tăng trưởng kinh tế bền vững sẽ không thể đạt được nếu không có hành động mạnh mẽ để bảo vệ tài nguyên nước,” (W.B 2019).

Từ thực tiễn diễn ra trên những lưu vực sông và các vùng kinh tế, bài viết đề cập đến nguy cơ ô nhiễm, thực trạng quản lý và giải pháp giảm thiểu dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu và quản lý.

Tổng quan về tài nguyên nước của Việt Nam

Tài nguyên nước là nhân tố quan trọng giúp cho việc định hình và phát triển nền kinh tế. Là một quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới, có mùa đông lạnh; nguồn nước dồi dào cùng với chính sách phát triển hợp lý, Việt Nam đã chuyển mình từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành nước có thu nhập trung bình thấp trong vòng 2 thập kỷ.

Nhờ lượng nước có khả năng tái tạo tính theo đầu người hàng năm lên tới 10.200 m3, tài nguyên nước của Việt Nam được đánh giá cao so với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Với 3.500 con sông có độ dài trên 10Km, hình thành 16 lưu vực sông có lượng mưa trung bình trên 2.000mm/ năm , được hỗ trợ bởi gần 7.500 đập trữ và chuyển nước, tài nguyên nước đã góp phần đưa Việt Nam thành một trong những quốc gia xuât khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 1

Với đặc điểm 2/3 tổng lượng nước mặn bắt nguồn bên ngoài lãnh thổ, cùng với mưa, bão bất thường, hơn 70% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng bất lợi bởi thiên tai liên quan tới nước. Trong quá trình phát triển, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, đất nước vẫn phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng khi tăng trưởng bị kìm hãm do khan hiếm nước, nông dân nghèo vì năng suất dùng nước thấp, lũ lụt và hạn hán phá hủy sinh kế và sức khỏe con người thường xuyên bị ảnh hưởng bởi tình trạng ô nhiễm.

Tình trạng căng thẳng về nước được ghi nhận theo mùa với sự bất cân đối giữa cung và cầu. 92% tổng lượng nước khai thác dùng vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; nhu cầu nước cho phát triển công nghiệp, giao thông và đô thị gia tăng dẫn đến nguy cơ cạnh tranh sử dụng ngày càng lớn. Nếu tiếp tục phát triển đất nước theo hướng hiện hành, căng thẳng về nước sẽ tập trung vào những vùng đang tạo ra tổng thu nhập lớn nhất.

Theo nhiều dự báo, trong 25 năm tới, nhu cầu sử dụng nước đô thị sẽ tăng gấp đôi. Gia tăng nhanh nhu cầu gây áp lực rất lớn cho nguồn nước của các lưu vực sông chính; đặc biệt là ở khu vực Hồng Hà-Thái Bình, ĐB sông Cửu Long và Đồng Nai, nơi gần 2/3 dân số sinh sống và đóng góp tới 80% GDP của cả nước .

Phân tích hiệu quả sử dụng nước cho thấy, mỗi m3 nước ở Việt Nam tạo ra khoảng 2,37 USD giá trị sản phẩm, chỉ bằng 1/10 mức bình quân trên thế giới. Tạo ra nhiều giá trị hơn trên một đơn vị nước sử dụng đang là thách thức rất lớn đặt ra.

Tài nguyên nước đang phải đối mặt với những đe dọa cả về số lượng và chất lượng. Sự phát triển đất nước kết hợp cùng BĐKH đang tạo ra những thách thức to lớn, đặc biệt là lũ lụt, ô nhiễm và cạnh tranh giữa các ngành sử dụng nước. Theo nhiều tính toán, những thách thức này có thể làm tổn thất tới 6% GDP hàng năm (W.B 2019-2)

Nghịch lý nguồn nước ở Việt Nam là quá nhiều, quá ít và quá bẩn. Nắng nóng, mưa nhiều và tập trung vào những tháng mùa mưa dẫn đến lũ lụt, gây nhiều tổn hại trước hết và nhiều nhất đối với người nghèo. Hạn hán thiếu nước ở nhiều vùng trở nên thường xuyên, đặc biệt khan hiếm nước ngày càng trầm trọng vào những tháng mùa khô. Mặt khác, tình trạng quá nhiều nước thải chưa được thu gom, xử lý đã làm nguồn nước bị ô nhiễm nặng. Ô nhiễm nước đang nổi lên và trở thành những mối đe dọa. Trong đó, nước thải công nghiệp và đô thị là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất. Tác động ô nhiễm nước đến sức khỏe con người được dự báo đến năm 2035 sẽ làm suy giảm đến 3,5% GDP hàng năm (W.B 2019-2).

Cho đến nay, khoảng 12,5% lượng nước thải đô thị được xử lý trước khi xả vào các nguồn nước. Trong 326 khu công nghiệp cả nước, có 220 khu xây dựng hệ thống nước thải tập trung, xử lý được khoảng 71% lượng nước thải phát sinh. Đáng lưu ý là, ở 587 cụm công nghiệp, chỉ có 9,4% có hệ thống xử lý nước thải. Phần lớn nước thải của các hộ trong hơn 5.000 làng nghề chưa được xử lý, nước thải công nghiệp và sinh hoạt đều được xả thẳng vào hệ thống thóat nước mặt.

Cùng với ô nhiễm nước công nghiệp, vấn đề đáng quan ngại là ngành nông nghiêp đang đóng góp một lượng lớn chất thải từ phân bón, mầm bệnh và hóa chất dùng vào sản xuất. Trên 67,6 triệu tấn chất thải chăn nuôi được thải vào môi trường không qua xử lý là nguồn gây ô nhiễm đất, nước và không khí. Ngoài ra, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất với việc lạm dụng phân hóa hoc và thuốc trừ sâu độc hại càng khiến tình trạng ô nhiễm nông nghiệp ngày một thêm nặng nề.

Đi cùng ô nhiễm nước tràn lan, quản lý dòng chảy từ bên ngoài biên giới vào đất nước đang là một trở ngại không nhỏ với gần 95% lượng nước của sông Mekong và trên 40%của lưu vực sông Hồng có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng.

Là một trong những nước hứng chịu thiên tai lớn nhất khu vực Đông Á -Thái Bình Dương, nhiều dự báo cho rằng, sau năm 2040, lượng mưa toàn quốc vào mùa khô sẽ giảm, ngược lại trong mùa mưa lại đạt mức cực đại và ngành dễ bị tổn thương nhất là nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Do bất cập về cơ sở hạ tầng và khả năng chống chịu, thiệt hại về kinh tế hàng năm được xác định khoảng 1,5% GDP, sẽ tăng lên 3% vào năm 2050 và lên tới 7% GDP trong năm 2100. Rủi ro thiên tai gánh chịu còn do tình trạng bảo dưỡng kém và nhất là ô nhiễm nguồn nước ngày càng thêm nặng nề (W.B 2019-2).

Diễn biến ô nhiễm nguồn nước với hiểm họa ngày một gia tăng

Ô nhiễm nguồn nước đang nổi lên và trở thành mối đe dọa kinh tế lớn nhất. Phân tích xu thế phát triển toàn cầu nhiều năm qua cho thấy, ít có tác động nào mang lại lợi ích phát triển nhanh và tức thời như cung cấp nước sạch. Trong nửa cuối thế kỷ XIX, tại nước Anh, mặc dù thu nhập trung bình tăng gấp đôi, điều kiện dinh dưỡng và nhà ở tốt hơn, nhưng tỷ lệ tử vong trẻ em tiếp tục gia tăng. Chỉ khi quốc gia này cải thiện đáng kể về chất lượng cấp nước và vệ sinh thì tuổi thọ trung bình và tỷ lệ sống sót của trẻ em mới tăng lên. Xu hướng này cũng đã diễn ra phổ biến ở nhiều nước những năm gần đây (W.B 2019-2).

Ngày nay, Việt Nam phải đối mặt với gánh nặng phát triển kép do vấn đề chất lượng nước nội tại. Nhiều chất ô nhiễm phát sinh do công nghiệp hóa làm phát sinh dịch bệnh, dẫn đến những rủi ro mới cho năng suất và tăng trưởng. Chất lượng nước ở Việt Nam suy thoái một cách đáng sợ với dấu hiệu của độc tính phát sinh và tăng mạnh từ các thành phố, khu công nghiệp và trong nông nghiệp. Hiện nay, không còn lưu vực sông nào đáp ứng được tiêu chuẩn ô nhiễm hữu cơ đối với nước uống của Tổ chức Y tế Thế giới. Dòng chảy của các con sông qua những thành phố lớn bị ô nhiễm nặng. Nước trong lòng đất bị khai thác quá mức dẫn đến gia tăng độ mặn và nồng độ các chất độc hại. Tình trạng này diễn ra cùng với xâm nhập mặn dẫn đến những tổn thất rất nặng nề.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 2

Ô nhiễm nguồn nước trở thành mối đe dọa kinh tế lớn nhất

Nước thải đô thị Việt Nam đã trở thành tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước lớn nhất. Cùng với nước thải, chất thải rắn phát sinh cũng là mối đe dọa tiềm ẩn đối với nguồn nước do chôn lấp thiếu vệ sinh và nằm gần các nguồn nước. Trong số 660 bãi rác hoạt động, chỉ có 30,7% hợp vệ sinh; những bãi còn lại không thu gom và xử lý nước thải rác gây ô nhiễm mạnh cả đất và nguồn nước. Số liệu ước tính của Bộ Xây dựng về tỷ lệ thu gom chất thải ở khu vực đô thị năm 2018 đạt 86%; cũng theo Bộ này, khoảng 70% chất thải rắn đô thị được thu gom và chôn lấp, tỷ lệ này đối với khu vực nông thôn còn thấp hơn nhiều (Bộ Xây dựng 2019)

Với nhịp độ tăng trưởng nhanh, nhu cầu nước công nghiệp gia tăng mạnh đồng thời với mức độ ô nhiễm cao. Độc tính cùng độ phức tạp của chất gây ô nhiễm làm phát sinh nhiều loại nước thải khó xử lý, trong khi hệ thống xử lý nước thải tập trung cả nước mới đáp ứng được 71% nhu cầu nước thải công nghiệp .

Ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tiêu thụ tới 92% tổng lượng nước, hàng năm sử dụng 11 triệu tấn phân bón (90% là phân vô cơ) với mức sử dụng trung bình từ 195kg đến 200kg NPK/ ha. Đáng chú ý là chỉ có 45%-50% lượng phân bón sử dụng hiệu quả, từ 50% đến 55% bị rửa trội. Cùng với phân vô cơ, lượng thuốc trừ sâu nhập khẩu đã lên khoảng 100.000 tấn/năm với các loại thuốc độc tính cao, để lại trong đất và nước nhiều tồn dư hủy hoại môi trường. Phân vô cơ và dư lượng hóa chất để lại thấm sâu vào lòng đất và trên sông ngòi, kênh rạch gây ô nhiễm nặng nề. Ngoài ra, lượng tồn dư trong nông sản cũng tạo nguy cơ độc hại đối với sức khỏe của người tiêu dùng.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 3

Hình ảnh ô nhiễm nguồn nước tại Việt Nam

Lạm dụng phân bón vô cơ là tác nhân chính làm gia tăng nhanh ô nhiễm ni tơ và phot pho ở những vùng sản xuất nông nghiệp lớn. Thuốc bảo vệ thực vật và các chất gây ô nhiễm sử dụng tràn lan dẫn đến hiệu quả kiểm soát thấp, đồng thời gây hại cho động vật hoang dã và sức khỏe con người. Thực tế diễn ra còn cho thấy, trồng trọt là ngành phát thải khí nhà kính lớn thứ 2 ở Việt Nam. Điều chỉnh việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu hiệu quả sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm và tạo thu nhập cao hơn trong sản xuất nông nghiệp (W.B 2019-2 Tr.46)

Phân tích những hoạt động liên quan đến nguồn nước gây hại cho nền kinh tế và môi trường, giới nghiên cứu nhận thấy, các hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học đang bị đe dọa do phá rừng và sử dụng đất ảnh hưởng đến vòng tuần hoàn của nước. Tình trạng này đã đẩy môi trường Việt Nam tới ngưỡng giới hạn chịu đựng, đòi hỏi chiến lược quốc gia phải tập trung vào sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả và bền vững, thích ứng với BĐKH thông qua chính sách các bon thấp, quản lý rủi ro thiên tai và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về môi trường.

Ô nhiễm nguồn nước hiện là một trong những thách thức lớn nhất. Tổn hại cho nền kinh tế của nước thải chưa được xử lý rất cao và theo chiều hướng gia tăng. Do nước thải công nghiệp không qua xử lý đổ vào, tại Cần Thơ (thuộc ĐB sông Cửu Long), sản lượng lúa đã giảm tới 12% vào cuối thập niên 2010. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới còn cho thấy, với sản lượng chiếm tới 30% lượng gạo làm ra của mười tỉnh bị ô nhiễm nước thải công nghiệp, ngành nông nghiệp sẽ sụt giảm 3,6% giá trị sản lượng và GDP toàn vùng hàng năm giảm khoảng 0,8%. Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng nông nghiệp, nước thải không qua xử lý còn gây hại cho sức khỏe con người, làm giảm năng lực làm việc và tỉ lệ tử vong cao, kéo theo gánh nặng lớn cho hệ thống y tế (W.B 2019-2 tr. 47).

Tác động của suy giảm năng suất lao động và gia tăng chi phí y tế đã được W.B đánh giá qua mô hình tính cân bẳng tổng thể. Phân tích đã chỉ ra, sự khác biệt giữa các kịch bản không có hành động (với 12,5% lượng nước thải đô thị được xử lý) và có hành động điều chỉnh ( 100% nước thải đô thị được xử lý). Theo kịch bản không hành động, GDP năm 2035 ở mức -3,5% so với phát triển bình thường. Ngược lại ở kịch bản hành động GDP đạt cao hơn 2,3%. Kết quả phân tích còn cho thấy, khi tính đến toàn bộ chi phí xử lý nước thải, tác động tích cực đến nền kinh tế là rất đáng kể, đạt chênh lệch 5,8%GDP và trong ngành nông nghiệp lên tới 9,5% (W.B 2019-2 Tr.48).

Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước từ góc nhìn nghiên cứu và quản lý

Chương trình cải cách toàn diện về xử lý nước thải đô thị và khu công nghiêp đã được Chính phủ phê duyệt trong Nghị định 88/2007/NĐ-CP ban hành năm 2007 và được thay thế bằng Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải ngày 06 thang 8 năm 2014. Tuy nhiên, trong thực thi, tình trạng ô nhiễm nguồn nước vẫn theo chiều hướng gia tăng. Những hạn chế gây ô nhiễm nguồn nước được thể hiện rõ trên các mặt về nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và ở các làng nghề; ô nhiễm do hóa chất và phân bón dùng trong nông nghiệp; kết nối thấp trong mạng lưới thoát nước; bỏ qua khả năng tái sử dụng nước thải; hệ thống pháp lý kém hiệu lực thực thi...

Từ góc nhìn nghiên cứu, chuyên gia Ngân hàng Thế giới tại Viêt Nam cho rằng, lĩnh vực quan trọng cần nghiên cứu là phải xác định vì sao cấu trúc pháp lý và khuyến khích lại chưa hiệu quả? nhằm làm rõ hành động có tác động lớn đến tình trạng ô nhiễm.

Theo giới phân tích, dịch vụ xử lý nước thải là loại dịch vụ công, phần lớn được cung cấp và chi trả từ các cơ quan chức năng nhà nước, có rất ít nhà đầu tư sẵn sàng mạo hiểm bỏ vốn vào thị trường mang lại lợi nhuận còn hạn chế này.

Ô nhiễm nguồn nước với phát triển bền vững ở Việt Nam - Ảnh 4

Các nhà nghiên cứu nhận xét, mức độ thương mại hóa thu gom, xử lý và tái sử dụng nước thải công nghiệp được đánh gia đúng sẽ mang lại một phần thu nhập đáng kể. Đánh giá đúng mức vấn đề này sẽ giúp tìm ra mô hình kinh doanh có thể sử dụng và những cải cách pháp lý cần thiết để củng cố và huy động các nhà đầu tư tư nhân tham gia vào thỏa thuận đầu tư công. Theo đó, tái sử dụng nước trong công nghiệp có thể biến nước thải thành cơ hội kinh doanh thương mại dưới các hình thức đầu tư của các tổ chức công-tư theo thỏa thuận PPP.

Nhằm ứng phó với xu thế ô nhiễm nguồn nước ngày càng mở rộng ở đô thị và nông thôn trong quá trình phát triển, kinh nghiệm học hỏi rút ra từ nhiều quốc gia cho thấy cần có những cải cách để thực thi khung pháp lý, cải thiện giáó dục và áp dụng những ưu đãi cần thiết.

Ngân hàng Thế giới khuyến cáo, tập trung vào cung cấp các lựa chọn kỹ thuật tốt hơn với những sửa đổi cơ chế khuyến khích hành vi không xả thải. Các chương trình của chính phủ nhằm vào thúc đẩy thực hành tốt, nhưng vẫn cần có những giám sát và cưỡng chế, hỗ trợ hợp tác liên ngành để nhân rộng những mô hình tốt, giảm thiểu ô nhiễm.

Học hỏi cách tiếp cận sáng tạo để kiểm soát ô nhiễm nguồn nước từ các quốc gia phải đối mặt với những thách thức tương tự là việc làm cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý. Hướng tiếp cận này tập trung vào những nội dung giám sát và trách nhiệm giải trình, các thể chế tài chính hỗ trợ đầu tư và giảm thiểu nguồn thải phi tập trung.

Để nâng cao khả năng sáng tạo trong hoạt động giám sát và trách nhiệm giải trình, cần phát triển chỉ số sức khỏe nguồn nước (SKNN). Chỉ số SKNN cho phép theo rõi dễ dàng mức độ thay đổi chất lượng nước. Kết hợp cùng các yêu cầu về nước cho hệ sinh thái, chỉ số này được dùng để giám sát chất lượng nước theo yêu cầu bảo vệ môi trường. Điều cốt lõi trong xem xét tác động chất lượng nước đến hệ sinh thái là việc quản lý chất thải rắn. Cần coi quản lý chất thải rắn như một phần của quản lý bền vững tài nguyên nước để; phân loại, xử lý chất thải thành năng lượng hoặc nhiên liệu .

Về trách nhiệm giải trình, chính quyền địa phương trong các lưu vực sông có vai trò quan trọng, Chính quyền tỉnh và UBND các cấp có trách nhiệm quản lý ô nhiễm và xử phạt cần tăng cường trách nhiệm giải trình với việc giao cho kiểm soát trưởng sông ngòi địa phương chịu trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước.

Hiện nay, trách nhiệm thực thi quy định luật pháp đều nằm ở các cơ quan hành pháp, Kinh nghiệm rút ra ở nhiều nước cho thấy, xã hội dân sự, thậm chí là công dân được quyền khởi kiện là nhân tố quan trọng để thúc đẩy thực thi luật pháp bảo vệ môi trường. Do vậy, cần bổ sung một số điều khoản cụ thể vào khung pháp lý để khuyến khích, cho phép xã hội dân sự thực thi các quy định đối với ô nhiễm nước.

Ở một số quốc gia, giao dịch chất lượng nước đã có những thành công trong giảm ô nhiễm từ nguồn nước không tập trung với việc giảm chi phí thủ tục hành chính. Cơ chế tài chính sáng tạo hỗ trợ đầu tư giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước phi tập trung là vấn đề nổi bật. Tại Hoa Kỳ nguồn thải phi tập trung chiếm từ 68% đến 73% tổng tải lượng ô nhiễm. Song ô nhiễm từ nguồn thải này lại rất khó kiểm soát nếu chỉ dựa vào công cụ luật pháp. Các phương pháp định hướng thị trường tạo thuận lợi cho việc chi trả giữa nhà cung cấp dịch vụ và người hưởng lợi. Tiếp cận thị trường bao gồm những giao dịch chất lượng nước, chi trả dịch vụ hệ sinh thái và quỹ nước có thể giúp đạt chất lượng cao và giảm được chi phí tuân thủ thủ tục hành chính.

Chi trả dịch vụ hệ sinh thái có thể điều chỉnh ưu đãi trong quản lý tài nguyên thiên nhiên; cách tiếp cận này đã được thử nghiệm ở Việt Nam khi người thụ hưởng hoặc sử dụng một dịch vụ của hệ sinh thái thanh toán trực tiếp hoặc gián tiếp cho nhà cung cấp dịch vụ. Trong ngành nước, dịch vụ hệ sinh thái được thực hiện khi người sử dụng nước hạ nguồn trả tiền cho cho các cộng đồng ở thượng lưu để quản lý và kiểm soát ô nhiễm đầu nguồn nhằm duy trì chất lượng nước tốt.

Quỹ nước cung cấp phương tiện tài trợ đầu tư vào khu vực môi trường nhạy cảm nhằm thay đổi hoạt động của nguồn nước. Quỹ nước được hình thành xung quanh một loạt cơ chế chi trả, bao gồm phí hoặc các khoản người sử dụng nước được hưởng lợi phải đóng góp. Bằng cách đặt trách nhiệm tài chính cho ngươì được thụ hưởng dịch vụ mong muốn, các quỹ nước sẽ tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư trong xử lý ô nhiễm nguồn nước.

Theo hướng tiếp cận thị trường, các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường và cơ quan quản lý nhà nước phải ký hợp đồng với các công ty môi trường để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng nước. Hợp đồng quản lý đảm bảo chất lượng môi trường của các lưu vực sộng với nhiều lựa chọn giúp doanh nghiệp ở nhiều quốc gia tuân thủ tốt tiêu chuẩn chất lượng. Cơ chế này sẽ góp phần nâng cao ý thức chấp hành tiêu chuẩn nước đồng thời giảm được gánh nặng pháp lý cho doanh nghiệp.

Thay lời kết luận

An ninh tài nguyên nước trong phát triển bền vững phụ thuộc vào việc giải quyết những vấn đề liên quan đến tình trạng căng thẳng về nước, suy giảm nhanh chất lượng nước, những rủi ro thiên tai và đặc biệt là tình trạng ô nhiễm nguồn nước.

Về những thách thức Việt Nam đang phải đối mặt, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho rằng“Cùng với áp lực gia tăng dân số, tăng trưởng kinh tế và nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao, tài nguyên nước có nguy cơ cạn kiệt” . Ông nhấn mạnh “Những áp lực này sẽ tạo nên các yếu tố kém bền vững cho phát triển, nếu tài nguyên nước không được quản lý một cách thống nhất và được chia sẻ, khai thác một cách hợp lý, hiệu quả.”( W.B 2019)

Để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, cần nhận thức rõ nước là nguồn tài nguyên quý giá duy trì sự sống, thúc đẩy thịnh vượng và tăng cường tiện nghi cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Bằng cách cân nhắc những đánh đổi, coi trọng giá trị của nước có thể cân bằng được nhiều mục đích sử dụng và dịch vụ do nước cung cấp một cách bền vững và công bằng.

Ô nhiễm nguồn nước là một rủi ro to lớn, việc quản lý tài nguyên nước hiệu quả có thể mang lại cơ hội để biến rủi ro thành khả năng thích ứng, thành phúc lợi và hệ sinh thái đang suy thoái trở nên bền vững hơn. Hy vọng những nhìn nhận khách quan của W.B, một đinh chế tài chính toàn cầu, về ô nhiễm nguồn nước đối với phát triển bền vững sẽ là tài liệu tham khảo có ích đối với các nhà hoạch định chính sách phát triển nước nhà./.

TS. Lê Thành Ý và ThS. Vương Xuân Nguyên

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước

đăng 20:39, 8 thg 8, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Ngày 7/8, Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM cùng các đơn vị có liên quan đã mời người dân các quận huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Quận 7 xuống Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước để giám sát hoạt động của các nhà máy tại đây.

Mùi nồng nặc, dân không dám xuống xe

Người dân lần lượt đi khảo sát thực tế tại 3 công ty đang hoạt động trong Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước gồm: Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS), Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh (xử lý bùn cống) và Công ty CP-DV Môi trường đô thị Hòa Bình (xử lý phân bùn hầm cầu).

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 1
Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 2
Người dân vào nhà máy Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh phải bịt khẩu trang vì mùi hôi nồng nặc. 

Sau khi được đoàn đưa đi thực tế tại nhà máy Công ty Sài Gòn Xanh và Công ty Hòa Bình (xử lý phân bùn cầu), ông Nguyễn Thành Mỹ (xã Phong Phú, huyện Bình Chánh) cho biết, nhà cách công ty chỉ 200m, đang dọn cơm ăn mà mùi hôi bay đến là bỏ chạy. Mỗi ngày bị ảnh hưởng mùi hôi nên rất lo lắng cho sức khỏe.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 3Ông Nguyễn Thành Mỹ (xã Phong Phú, huyện Bình Chánh).

Ngoài ra, việc trồng trọt, chăn nuôi của gia đình cũng bị ảnh hưởng bởi nguồn nước bị ô nhiễm. Ông Mỹ đề nghị cơ quan chức năng và công ty sớm trồng cây xanh cách ly, cũng như di dời nhà ông và một số hộ dân đang nằm trong ranh quy hoạch trồng cây xanh cách lý.

Bà Nguyễn Hồng Thu (cư dân quận 7) bức xúc cho biết, ở nhà thi thoảng vẫn ngửi được mùi phân tươi rất nồng nặc. Đến hôm nay, sau khi vào nhà máy Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh (xử lý bùn cống), chúng tôi xin khẳng định chính mùi hôi này.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 4Bà Tô Hồng Trang (cư dân quận 7).

Bà Tô Hồng Trang (cư dân quận 7) cho biết, khi đi thực tế nhà máy thì có mùi hôi rất nồng nặc, dù ngồi trên xe ô tô nhưng mùi hôi vẫn bay vào xe thì không thể nói mùi hôi xuất phát từ quá trình vận chuyển được. Bà Trang đề nghị phía Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh phải xử lý, ngăn chặn mùi hôi phát tán ra môi trường.

Dân nói gì về bãi rác Đa Phước?

Tại Cty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS), người dân các quận huyện Nhà Bè, Bình Chánh, quận 7 được công ty chở đi tham quan khu vực chôn lấp, khu xử lý nước thải, khu phân loại rác và nhà máy thu khí ga phát điện…

Đại diện VWS thừa nhận vì chưa có hệ thống vành đai cây xanh cách ly (do TPHCM chưa thực hiện) và nguồn rác từ phân loại tại nguồn chưa thực hiện được nên chưa thể giảm khối lượng chất thải chôn lấp cũng như mùi hôi.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 5Người dân các quận huyện Nhà Bè, Bình Chánh, quận 7 được công ty chở đi tham quan tại Cty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam (VWS).

Phía công ty VWS có hệ thống khửi mùi hoạt động liên tục trên bãi chôn lắp. Hệ thống bao gồm giàn phun xịt mùi hôi và máy phun khửi mùi hôi áp lực, với công suất cao.

“Công ty vận hành liên tục 24/24h dưới sự giám sát thường xuyên của thành phố. Việc giám sát mùi hôi được tăng từ 3 lần/ngày lên 5 lần/ngày”, đại diện VWS nói với người dân khi tham quan trên bãi rác.

Trở về sau chuyến đi thực tế, phần lớn người dân cho biết, bãi rác đã không còn mùi hôi nồng nặc như trước, mà chỉ hôi nhẹ nhờ khâu xử lý mùi hôi của công ty đang làm tốt.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 6Công nhân làm việc trên bãi chôn lấp rác.

Ông Phạm Văn Hai (ngụ huyện Bình Chánh) cho biết, đây là lần thứ 2 ông vào nhà máy và thấy công ty khắc phục, khống chế mùi hôi tốt hơn so với trước đây rất nhiều.

Đồng cảm nhận từ chuyến đi lên bãi chôn lấp rác, ông Nguyễn Ngọc Minh (ngụ huyện Nhà Bè) cho biết, từ xưa giờ chỉ nghe thông tin bãi rác chứ chưa bao giờ vào. Đây là lần đầu tiên vào bên trong nhà máy xử lý rác. Lúc trước thì người dân phản ánh có mùi hôi nhưng từ hơn 1 năm nay thì mùi hôi giảm đi, không còn nặng như trước.

“Hôm nay lên đến bãi chôn lấp rác, tôi không ngửi thấy mùi hôi là mấy. Công ty xử lý mùi hôi tại bãi tốt và mong rằng phía công ty sẽ có nhiều giải pháp hơn để người dân sống xung quanh không bị ảnh hưởng”, ông Minh đề nghị.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 7Ông Nguyễn Văn Phê ngụ huyện Nhà Bè

Ông Nguyễn Văn Phê (ngụ huyện Nhà Bè) cho biết, khi đến đây thấy môi trường sinh hoạt rất tốt. Cách đây hơn 10 năm, ông làm việc gần bãi rác nên có biết mùi hôi ở đây rất khó chịu.

“Tuy nhiên, thời gian gần đây thì không có. Bữa nay tôi qua đây khảo sát thực tế mấy điểm trong nhà máy thì thấy rất tốt. Ngay cả nước sau khi xử lý từ nước rỉ rác cũng được anh bạn của tôi uống, không sao”, ông Phê nói.

Ông Nguyễn Trọng Hùng (ngụ quận 7) nói rằng người dân cảm nhận mùi hôi từ các giác quan nên thấy sao nói vậy. Cuộc sống người dân khác trước vì ảnh hưởng bởi mùi hôi. Tuy nhiên, từ năm ngoái đến năm nay, mùi hôi có giảm nhưng thi thoảng vẫn còn. Đặc biệt là buổi chiều và tối.

Sự thật mùi hôi ở Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước - ảnh 8Ông Nguyễn Trọng Hùng (ngụ quận 7)

“Khi đi tham quan thực tế Công ty TNHH Xử lý chất thải rắn Việt Nam, chúng tôi ghi nhận công nghệ xử lý rác của công ty. Chúng tôi mong muốn chính quyền thành phố và công ty công khai dữ liệu quan trắc môi trường không khí, nước để người dân biết và giám sát”, ông Hùng đề nghị.

Bà Tô Hồng Trang (ngụ quận 7) thì rằng việc Sở Tài nguyên và Môi trường mời người dân giám sát trong khung giờ nhất định chưa phản ánh được đánh giá mùi hôi. Từ đây, bà Trang đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương tổ chức đường dây nóng để nhận phản ánh của người dân. Từ đó cơ quan chức năng đến ngay vị trí người dân phản ánh để kiểm tra, xác minh.

Kết thúc buổi giám sát, ông Lê Trung Tuấn Anh, Trưởng phòng quản lý chất thải rắn (Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM) cho biết, tất cả ý kiến của người dân sẽ được tổng hợp kiến nghị UBND TPHCM. Trong đó lưu ý những giải pháp trước mắt và lâu dài liên quan đến vấn đề xử lý rác của thành phố.

Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM cho biết, thành phố dự kiến tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư triển khai công nghệ đốt rác phát điện với công suất 2000 tấn/ngày. Qua đó, đề nghị VWS sớm hoàn thiện đề án chuyển đổi công nghệ đốt rác phát điện.

Về vấn đề này, VWS cho biết đã trình đề án cho cơ quan chức năng nhưng hiện thành phố chưa phê duyệt. Nếu được phê duyệt thì VWS sẽ triển khai ngay

Trước phản ánh của người dân về mùi hôi, ông Lê Trung Tuấn Anh đề nghị Công ty TNHH công nghệ Sài Gòn Xanh ghi nhận phản ánh của người dân và sớm có giải pháp bổ sung đề mùi hôi của nhà máy không ảnh hưởng đến người dân sống xung quanh.

VĂN MIN

Xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về giảm rác thải nhựa đại dương đến năm 2030

đăng 20:24, 8 thg 8, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về giảm rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Chú thích ảnhRác thải tồn đọng tại Hòn Sơn (xã đảo Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang). Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN

Đây là một nội dung quan trọng để giải quyết vấn đề rác thải nhựa đại dương ở Việt Nam cũng như khu vực và trên toàn thế giới. 

Tiến sĩ Tạ Đình Thi, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết, bên cạnh những cam kết chính trị mạnh mẽ và nhiều hoạt động thiết thực trong quản lý, giảm rác thải nhựa, trong đó có rác thải nhựa đại dương, Chính phủ đang quyết liệt thực hiện các chính sách và giải pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa, nhất là sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông khó phân hủy. Trong đó chú trọng giảm thiểu việc sử dụng, tăng cường tái sử dụng, tái chế sản phẩm nhựa, thúc đẩy xây dựng nền kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh.

Mục tiêu của Kế hoạch hành động quốc gia về rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 nhằm quản lý được rác thải nhựa đại dương từ nguồn thải trên đất liền và nguồn thải ở biển, theo cách tiếp cận nền kinh tế tuần hoàn, đưa Việt Nam trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực về giảm thiểu rác thải nhựa đại dương. Đồng thời tạo đột phá và chuyển biến căn bản về nhận thức, ứng xử và hành vi của toàn cộng đồng trong sản xuất, tiêu dùng, thải bỏ sản phẩm nhựa và thu gom, xử lý rác thải nhựa. 

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2025 xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách phục vụ quản lý rác thải nhựa đại dương; giảm thiểu 50% rác thải nhựa đại dương; 50% ngư cụ đánh bắt cá bị mất hoặc bị vứt bỏ sẽ được thu gom; 80% các khu du lịch, dịch vụ ven biển không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni lông khó phân hủy; 80% các khu bảo tồn biển không còn rác thải nhựa. Thực hiện việc quan trắc hằng năm và định kỳ đánh giá hiện trạng rác thải nhựa đại dương tại một số cửa sông chính, đảo tiền tiêu, có tiềm năng phát triển du lịch. Thực hiện các nghiên cứu khoa học chuyên sâu về tác động của rác thải nhựa đại dương, đặc biệt là vi nhựa  (hạt nhựa nhân tạo có khích thước nhỏ) đến tài nguyên, môi trường, các hệ sinh thái biển và sức khỏe con người. Xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm quốc tế về rác thải nhựa đại dương. Thiết lập, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành về rác thải nhựa đại dương, tích hợp, chia sẻ với khu vực và quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu 100% các khu du lịch, dịch vụ ven biển không sử dụng các sản phẩm nhựa sử dụng một lần và túi ni lông khó phân hủy; chấm dứt việc thải bỏ ngư cụ trực tiếp xuống biển; hạn chế cơ bản việc nhập khẩu phế liệu nhựa làm nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp tại các khu chế xuất, khu công nghiệp ven biển; giảm thiểu 75% rác thải nhựa đại dương; 100% các khu bảo tồn biển không còn rác thải nhựa; mở rộng quan trắc hằng năm và định kỳ đánh giá hiện trạng rác thải nhựa đại dương tại các cửa sông chính, các đảo tiền tiêu, có tiềm năng phát triển du lịch.

Trong nội dung Dự thảo Kế hoạch hành động quốc gia về rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 đề ra 7 nhiệm vụ chủ yếu. Đó là tuyên truyền, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, ứng xử với các sản phẩm nhựa và rác thải nhựa đại dương; rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý rác thải nhựa đại dương; ngăn ngừa, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương từ đất liền; ngăn ngừa, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương từ nguồn thải trên biển; tăng cường xã hội hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động làm sạch, thu gom rác thải nhựa và rác thải nhựa đại dương; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển, chuyển giao công nghệ về rác thải nhựa đại dương; tăng cường hợp tác quốc tế về quản lý rác thải nhựa đại dương.

Dự thảo Kế hoạch cũng đã nêu ra 5 giải pháp chủ yếu, bao gồm triển khai các chương trình, kế hoạch tuyên truyền nâng cao nhận thức; nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và phối hợp của các cấp, các ngành, các cơ quan; huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để triển khai thực hiện Kế hoạch; đào tạo, tập huấn nâng cao kinh nghiệm năng lực cho đội ngũ cán bộ của các tổ chức quản lý, nghiên cứu và tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về rác thải nhựa đại dương.

Nhật Minh (TTXVN)


Quảng Ninh: Tăng cường giám sát môi trường qua hệ thống quan trắc tự động tại các KCN

đăng 03:06, 25 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(TN&MT) – Công tác bảo vệ môi trường nhất là tại các khu công nghiệp (KCN) luôn được tỉnh Quảng Ninh xác định với phương châm mang tính “sống còn” đó là phát triển sản xuất phải gắn với bảo vệ môi trường. 

Thời gian qua, Sở TN&MT Quảng Ninh đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt trong việc đôn đốc, giám sát các doanh nghiệp trong việc đầu xây dựng các trạm xử lý nước thải tập trung, cũng như lắp đặt hệ thống quan trắc tự động góp phần bảo vệ môi trường tại các KCN.

A 1Trạm xử lý nước thải công nhiệp tại KCN Texhong Hải Hà đi vào hoạt động từ năm 2016.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 5 KCN đang hoạt động và đều đã đầu tư lắp đặt hệ thống xử lý nước thải tập trung đảm bảo thu gom toàn bộ nước thải phát sinh tại các KCN. Cụ thể, 5 KCN gồm: Cái Lân, Hải Yên, Đông Mai, Việt Hưng, Texhong Hải Hà. Trong đó có những KCN lớn, thu hút hàng trăm doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh với hàng chục vạn công nhân, người lao động làm việc tại đây.

Điển hình như KCN Cái Lân, tại TP Hạ Long là KCN được hình thành và xây dựng sớm nhất của tỉnh Quảng Ninh, ngay từ năm 2002, Chủ đầu tư KCN Cái Lân là Công ty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh đã đầu tư xây dựng hạ tầng và triển khai xây dựng trạm xử lý nước thải giai đoạn I với quy mô 2.000 m3/ngày đêm. Hiện nay, Trạm xử lý nước thải tập trung KCN giai đoạn I được vận hành ổn định với công suất khoảng 500-700 m3/ngày đêm, đảm bảo thu gom, xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh từ KCN Cái Lân giai đoạn I. Tiếp đó, năm 2018, Đề án đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và đổi mới quản lý vận hành KCN Cái Lân đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt. Cụ thể, UBND tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo thành lập tổ công tác gồm đại diện các sở, ngành liên quan hướng dẫn Công ty CP Xi măng và Xây dựng Quảng Ninh thực hiện các nội dung liên quan, trong đó có nhiệm vụ đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung đảm bảo cho hoạt động của KCN với công suất khoảng 6.000 m3/ngày đêm, nâng tổng công suất lên 8.000 m3/ngày đêm.

A 2Trạm xử lý nước thải công nhiệp tại KCN Texhong Hải Hà đi vào hoạt động từ năm 2016.

 Hay như với KCN Texhong Hải Hà, tại huyện Hải Hà, theo quy hoạch, Trạm xử lý nước thải tập trung của KCN Texhong Hải Hà (giai đoạn 1) gồm 5 mô-đun 10.000m3/ngày đêm(5x10.000m3/ngày đêm) và 1 mô-đun 6.000m3/ngày đêm. Từ tháng 6/2016, Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam vận hành trạm 6.000m3/ngày đêm. Hiện Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam đã xây dựng xong 1 trạm xử lý nước thải công suất 10.000 m3/ngày đêm, đang trong quá trình vận hành thử nghiệm.

Song song với việc đôn đốc các KCN xây dựng hoàn thiện các Trạm xử lý nước thải, thời gian qua, Sở TN&MT Quảng Ninh đã quyết liệt trong việc yêu cầu các KCN, doanh nghiệp lắp đặt hệ thống quan trắc tự động nước thải công nghiệp tại các KCN. Đến nay đã có 4/5 KCN hoàn thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải công nghiệp. Cụ thể như: KCN Cái Lân KCN Việt Hưng, KCN Texhong Hải Hà giai đoạn 1 đã hoàn thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải KCN và truyền dữ liệu trực tiếp, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường. Còn KCN Hải Yên đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, hiện đang thực hiện các yêu cầu kỹ thuật để kết nối dữ liệu trực tiếp, liên tục về Sở Tài nguyên và Môi trường. Đối với KCN Đông Mai, chủ đầu tư hạ tầng KCN sẽ được đầu tư đồng thời trong quá trình xây dựng Trạm xử lý nước thải giai đoạn I và hoàn thành trong năm 2019.

Tuy nhiên, sau một thời gian đi vào hoạt động, nảy sinh một số khó khăn, do hoạt động quan trắc tự động là loại hình mới, trong quá trình vận hành của các cán bộ tại các KCN chưa vận hành đảm bảo theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, quy trình chuẩn vì thế hầu hết các đơn vị đều gặp các sự cố dẫn đến kết quản quan trắc không phản ánh đúng tình trạng xả thải của các đợn vị.Thậm chí, dữ liệu quan trắc môi trường tự động truyền về Sở TN&MT còn vượt giới hạn cho phép như: Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam, Công ty CP Phát triển khu công nghiệp Việt Hưng...

Trao đổi với PV, Phó Giám đốc Sở TN&MT Quảng Ninh, ông Phạm Văn Cường cho biết, để khắc phục các tồn tại nêu trên và đảm bảo hoạt động quan trắc môi trường tự động kịp thời thời theo dõi giám sát hoạt động xả khí thải, nước thải theo đúng quy định. Thời gian qua, Sở TN&MT Quảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các đơn vị sản xuất, kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng phải lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động truyền dữ liệu về đơn vị. Đối với trạm quan trắc môi trường tự động tại các KCN, khẩn trương hoàn thành việc lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, truyền số liệu liên tục về Sở đúng thời hạn theo quy định. Với công trình bảo vệ môi trường, phải vận hành hệ thống xử lý khí thải, nước thải theo đúng quy trình vận hành của hệ thống, ghi chép đầy đủ nhận ký vận hành.Đồng thời, Sởsẽ tổ chức giám sát đột xuất hoạt động vận hành hệ thống xử lý nước thải, khí thải và hệ thống quan trắc môi trường tự động và kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Phạm Hoạch

Tag: Quan trắc môi trường, cấp phép xả thải, gia hạn xả thải,

Thủ tướng phê duyệt đề án Đoàn Thanh niên tham gia bảo vệ môi trường

đăng 03:25, 23 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Thu tuong phe duyet de an Doan Thanh nien tham gia bao ve moi truong hinh anh 1Các Đoàn viên, thanh niên đang tích cực dọn rác ở bãi biển trong chiến dịch Hãy làm sạch biển năm 2019. (Ảnh: Văn Dũng/TTXVN)

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2019-2022.”

Đề án nhằm nâng cao nhận thức và hướng tới thay đổi hành vi cho thanh thiếu niên nói riêng và nhân dân nói chung trong việc bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hàng năm, 100% tổ chức Đoàn các cấp tổ chức ít nhất 1 hoạt động tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; 100% chi đoàn trên địa bàn dân cư đăng ký đảm nhận và triển khai thực hiện “Tuyến đường sáng-xanh-sạch-đẹp;" các cấp bộ Đoàn triển khai hiệu quả Chương trình “Vì một Việt Nam xanh,” tổ chức trồng mới 30 triệu cây xanh.

Triển khai thực hiện 200 công trình thanh niên cấp tỉnh, 1.600 công trình thanh niên cấp huyện về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; hỗ trợ 1.000 ý tưởng khởi nghiệp, các mô hình khởi nghiệp, lập nghiệp của thanh niên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; hỗ trợ xây dựng 250 nhà tránh lũ cho các hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực miền Trung.

Đa dạng các hình thức tuyên truyền

Một trong các giải pháp thực hiện Đề án là tổ chức các hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó, tuyên truyền trực quan như sử dụng hệ thống băng rôn, khẩu hiệu, tờ rơi; biên tập và phát hành các tài liệu sinh hoạt chi đoàn-chi hội-chi đội…

Bên cạnh đó, tuyên truyền trên báo chí, phát thanh, truyền hình: Xây dựng các chuyên mục dài kỳ, phóng sự truyền hình, viết tin, bài phản ánh về hoạt động tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu của thanh niên trên hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương; tổ chức các chương trình truyền hình thực tế, các chương trình truyền hình tương tác về bảo vệ môi trường giữa đoàn viên, thanh niên và người dân trên truyền hình.

Về tuyên truyền trên mạng xã hội và các phương tiện truyền thông hiện đại, xây dựng bộ sản phẩm tuyên truyền hiện đại về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và triển khai phần mềm tra cứu thông tin về môi trường, thông tin cảnh báo thiên tai, thông tin về giải pháp, công nghệ bảo vệ môi trường.

[Hừng hực khí thế ra quân Chiến dịch ""Hãy làm sạch biển"" năm 2019]

Hàng năm, phát động và triển khai chiến dịch truyền thông thông qua tổ chức các chiến dịch, diễn đàn, tọa đàm, cuộc thi, hoạt động của thanh niên để hưởng ứng các sự kiện về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; thiết kế, biên tập và in các ấn phẩm truyền thông về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thành lập các đội tuyên truyền viên về bảo vệ môi trường của thanh niên tham gia tuyên truyền, vận động, thuyết phục người dân địa phương thay đổi hành vi, thói quen, tập quán sinh hoạt gây hại đối với môi trường.

Xây dựng, nhân rộng các mô hình về bảo vệ môi trường

Giải pháp khác của Đề án là xây dựng, nhân rộng các mô hình về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trong đoàn viên, thanh niên.

Thu tuong phe duyet de an Doan Thanh nien tham gia bao ve moi truong hinh anh 2(Ảnh: Văn Dũng/TTXVN)

Cụ thể, tiếp tục triển khai hiệu quả và xây dựng, nhân rộng các mô hình, công trình thanh niên tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; hỗ trợ các ý tưởng khởi nghiệp, các mô hình khởi nghiệp, lập nghiệp của thanh niên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; vận động đoàn viên, thanh niên sử dụng các nguyên vật liệu đầu vào của sản xuất thân thiện với môi trường, thực hiện xả thải đúng quy định, xây dựng các mô hình kinh tế xanh; hướng dẫn thành lập và duy trì các tổ hợp tác, hợp tác xã thanh niên hoạt động trong lĩnh vực môi trường; hướng dẫn thành lập và duy trì hoạt động của các đội hình thanh niên xung kích tham gia làm sạch bờ biển; các đội hình thanh niên tình nguyện chuyên sâu phòng chống thiên tai, hỗ trợ người dân trong xử lý sự cố môi trường; các câu lạc bộ thanh niên tình nguyện về bảo vệ môi trường...

Bên cạnh đó, xây dựng, nhân rộng các mô hình về ứng phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể, triển khai chương trình “Vì một Việt Nam xanh,” xây dựng các mô hình điểm về trồng trọt ứng phó với biến đổi khí hậu, tiết kiệm điện, năng lượng; xây dựng nhà tránh lũ và các công trình bể chứa nước, bể lọc nước… cho đoàn viên, thanh niên và người dân tại các khu vực miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên bị ảnh hưởng của bão, lũ; triển khai các hoạt động hỗ trợ nhân dân thích ứng với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long./.

(TTXVN/Vietnam+)

Công ty Thoát nước nói gì khi xả nước làm trôi kết quả thí điểm trên sông Tô Lịch?

đăng 03:21, 22 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

Moitruong24h - Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng sau đợt xả nước, toàn bộ sinh vật có lợi bị cuốn trôi khỏi khu thử nghiệm trên sông Tô Lịch. Công ty Thoát nước Hà Nội cho biết không nhận được phản hồi gì từ phía đơn vị đang thí điểm.

Sông Tô Lịch thay đổi khác lạ sau khi nhận hơn 1 triệu m3 nước từ hồ Tây. Ảnh TT

Sông Tô Lịch thay đổi khác lạ sau khi nhận hơn 1 triệu m3 nước từ hồ Tây. Ảnh TT

Về phản ánh khi xả hơn 1 triệu m3 nước từ Hồ Tây vào, toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã bị cuốn trôi, ông Lê Vũ Quảng Sương - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV thoát nước Hà Nội cho biết: "Phía đơn vị thí điểm đưa ra nhiều nguyên nhân để lùi thời gian lấy mẫu kết quả, trong đó có nguyên nhân do xả nước từ Hồ Tây vào sông Tô Lịch. Điều này tôi thấy bình thường và họ cũng không có phản ứng gì trực tiếp với bên công ty".

Ông Sương cho rằng, việc xử lý, giải quyết ô nhiễm của con sông Tô Lịch và phòng chống úng ngập của thành phố phải song song.

"Về việc thử nghiệm công nghệ Nhật Bản để làm sạch sông Tô Lịch, theo tôi hoạt động này phải đảm bảo hoạt động bình thường, an toàn của hệ thống thoát nước của thành phố", ông Sương nói.

Theo lãnh đạo công ty Thoát nước Hà Nội, vấn đề xử lý ô nhiễm ở sông Tô Lịch là việc được thành phố quan tâm và phía công ty cũng rất coi trọng.

Trao đổi về việc xả hơn 1 triệu mét khối nước từ Hồ Tây vào sông Tô Lịch, ông Sương khẳng định: "Thực hiện công tác phục vụ thoát nước mùa mưa theo quy định đơn vị này phải hạ mực nước đệm trên hệ thống ao hồ của TP, trong đó có hồ Tây.

Mực nước của hồ Tây (rộng khoảng 500 ha) đang cao hơn quy định khoảng 25 cm. Công ty Thoát nước Hà Nội thực hiện xả để đưa mực nước hồ Tây xuống mức bình thường là đúng quy định vận hành.

Trước đó, Tiến sĩ Tadashi Yamamura - Chuyên gia Liên Hợp Quốc về môi trường, Chủ tịch Tổ chức xúc tiến Thương mại - Môi trường Nhật Bản vừa chính thức gửi Công văn tới Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND TP. Hà Nội, các Sở, ngành, đơn vị liên quan đề nghị lùi thời gian lấy mẫu, đánh giá và công bố kết quả giai đoạn thí điểm làm sạch sông Tô Lịch.

Đề cập đến lý do xin lùi thời gian lấy mẫu đánh giá, Tiến sĩ Tadashi Yamamura cho hay, khi kiểm tra hệ vi sinh vật của tấm Bioreactor đặt tại vị trí thí điểm làm sạch sông Tô Lịch, các chuyên gia Nhật Bản phát hiện toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã bị cuốn.

"Trong 3 ngày (9-12.7.2019), khoảng hơn 1,5 triệu m3 nước Hồ Tây đã được xả trực tiếp vào đầu nguồn sông Tô Lịch - nơi có khu thí điểm làm sạch nước sông Tô Lịch của dự án chúng tôi đang thực hiện. Chúng tôi đánh giá rằng, đây là nguyên nhân khách quan và đảm bảo an toàn cho thành phố trong mùa mưa, nên việc xả nước là theo đúng quy định của UBND Thành phố.

Tuy nhiên, sau đợt xả nước, khi chuyên gia Nhật Bản kiểm tra hệ vi sinh vật của tấm Bioreactor thì thấy toàn bộ hệ vi sinh vật có lợi do các tấm Bioreactor kích hoạt trong vòng gần 2 tháng qua đã trong chốc lát bị cuốn trôi và không còn ở khu 300m để đánh giá"- Tiến sĩ Tadashi Yamamura cho biết.

Chuyên gia Nhật Bản cũng cho biết thêm, gần như họ phải làm lại từ đầu và cần thời gian tối thiểu trên 1 tháng để kích hoạt trở lại hệ vi sinh vật có lợi thì lấy mẫu đánh giá ở khu vực thí điểm mới chính xác, khách quan.

 "Chúng tôi hiểu việc xả nước từ Hồ Tây là công việc thoát lũ mùa mưa để đảm bảo an toàn theo đúng chủ trương và chỉ đạo của UBND Thành phố. 

ANH THƯ/Laodong

Tìm giải pháp đột phá nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý nhà nước về TN&MT

đăng 03:14, 22 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(TN&MT) - Ngày 19/7/2019, tại Thanh Hóa, Bộ Tài nguyên và Môi trưng tổ chức Hội nghị Giao ban công tác quản lý tài nguyên và môi trường các tỉnh thành phố khu vực phía Bắc. Chủ trì Hội nghị có Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, các Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa, Võ Tuấn Nhân, Trần Quý Kiên, Lê Công Thành.

Tham dự Hội nghị còn có Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đình Xứng; ông Phạm Quang Ngọc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình; ông Bùi Thế Cử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên; ông Cao Tường Huy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cùng lãnh đạo các Sở Tài nguyên và Môi trường 31 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc.

HN GiaobanPhiaBac 1Bộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu khai mạc Hội nghị 

 

Chủ động chuyển hóa thách thức thành cơ hội

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, trải qua chặng đường 3 năm 6 tháng thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020 và vui mừng nhìn lại những thành tựu, những khó khăn đã vượt qua kể từ đầu nhiệm kỳ,  bằng các giải pháp tổng thể, với cách tiếp cận mới, tư duy mới và triết lý phát triển mới chúng ta đã chủ động ứng phó, giải quyết một cách bài bản, khoa học với tinh thần trách nhiệm cao để từng bước chuyển hóa thách thức thành cơ hội, tập trung tháo gỡ các rào cản, giải phóng nguồn lực tài nguyên cho phát triển KT-XH; tạo sự chuyển biến rõ nét, thực chất trên các lĩnh vực. Chủ động chuẩn bị và tham mưu để Đảng và Nhà nước ban hành những chủ trương, chính sách lớn mang tầm chiến lược dài hạn cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Bộ trưởng Trần Hông Hà thông tin, Bộ đã tổng kết đánh giá thực tiễn, nghiên cứu đề xuất Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ ban hành các chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược để phát huy nguồn lực tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu như: Nghị quyết số 36-NQ/TW của BCH Trung ương về chiến lược phát triển kinh tế biển; Kết luận số 36-KL/TW về đất đai; Luật Đo đạc và Bản đồ; Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu,…

Quỹ đất từng bước được khai thác hiệu quả hơn, theo số liệu thống kê đất đai vừa được hoàn thành cho thấy chúng ta đảm bảo được chỉ tiêu diện tích đất lâm nghiệp đạt hơn 42% diện tích tự nhiên, quỹ đất phi nông nghiệp tăng 25 nghìn ha trong giai đoạn 2016 - 2018 để phục vụ phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đô thị, nhu cầu nhà ở cho nhân dân. Tình trạng lãng phí đất đai, quy hoạch treo, dự án treo ở các đô thị, lãng phí trong sử dụng quỹ đất của các nông, lâm trường được tập trung giải quyết.

Thu tiền sử dụng đất tăng đều qua các năm, năm 2016 là 77,9 nghìn tỷ, năm 2017 đạt 104 nghìn tỷ đồng, năm 2018 là 121,4 nghìn tỷ đồng, trong 6 tháng đầu năm đã đạt gần 50 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,5% thu ngân sách nội địa. Thu tiền từ cấp quyền khai thác tài nguyên nước lũy kế đến nay đạt 9 nghìn tỷ đồng tăng 2 nghìn tỷ so với năm 2018, thu từ khai thác khoáng sản đạt khoảng 4 nghìn tỷ. Ngành khai khoáng đóng góp 0,12 điểm phần trăm; lĩnh vực bất động sản đóng góp 0,27 điểm phần trăm.

Công tác thanh tra, kiểm tra đã mang lại hiệu quả, chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên và môi trường. Trong 3 năm 2016-2018, qua thanh tra toàn ngành kiến nghị thu hồi gần 13 nghìn ha đất. Khiếu kiện về đất đai giảm 38% so với giai đoạn trước. Qua hoạt động giám sát tối cao về tình hình quản lý đất đai ở đô thị tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội đánh giá cao kết quả công tác quy hoạch, quản lý đất đai tại các đô thị góp phần thay đổi diện mạo đô thị, phát huy nguồn lực đất đai cho phát triển.

Vấn đề môi trường đó các chuyển biến từ phương thức, tư duy quản lý đến triển khai trong thực tiễn. Nhiều dự án công nghiệp lớn đã được kiểm soát, bảo vệ môi trường để hoạt động hiệu quả tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Có 88,3% số KCN có hệ thống xử lý chất thải tập trung, có thể hoàn thành vượt mục tiêu 89% do Quốc hội giao trong năm 2019. Đã triển khai nhiều giải pháp, sáng kiến quốc tế và trong nước nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa, bước đầu tạo được sự chung tay của toàn xã hội. Thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực môi trường đã được đơn giản hóa (25TTHC), rút ngắn thời gian 15-25 ngày phù hợp với công nghệ.

Tiềm năng lợi thế về biển tiếp tục được phát huy, các tỉnh, thành phố ven biển tiếp tục là động lực cho phát triển trong 6 tháng đầu năm 2019, tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp của Trà Vinh tăng 43,13% so với cùng kỳ năm trước, Thanh Hóa tăng 42,6%, Hà Tĩnh tăng 30,98% Quảng Ninh tăng 13,51%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,8%, trong 6 tháng cuối năm 2019 sẽ thêm Hải Phòng là động lực tăng trưởng mới…. Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đang được tích cực triển khai; vướng mắc liên quan đến hoạt động giao khu vực biển, nhận chìm đã được tháo gỡ; chúng ta đang thực hiện thủ tục tiếp nhận tàu nghiên cứu do Nhật Bản trao tặng để hình hành đội tàu nghiên cứu biển, vươn ra làm chủ biển khơi.

Về công tác dự báo khí tượng thuỷ văn, đã tiệm cận với trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, thế giới; gia tăng thời hạn dự báo trước các loại hình thiên tai với với độ chính xác để các địa phương chủ động phòng tránh giảm thiệt hại.

Trong ứng phó với BĐKH đã nghiên cứu đề xuất giải pháp tổng thể phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long; nghiên cứu giải pháp thủy thạch động lực trong phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển; khảo sát xác định các khu vực có nguy cơ sạt lở ở miền núi phía Bắc,…để từ mô hình điểm sẽ nhân rộng ra các vùng.

Nguyễn Đình Xứng PBT CTUBND ThanhHoaÔng Nguyễn Đình Xứng, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá phát biểu tại Hội nghị 

Chuyển biến rõ nét trong cung cấp dịch vụ công ở các địa phương

Với nỗ lực rất lớn từ các địa phương, một vấn đề rất bức xúc là cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp đã có sự chuyển biến rất rõ nét. Nếu từ năm 2015, 2016 người dân, doanh nghiệp thường kêu ca, phàn nàn về các thủ tục đất đai, khoáng sản nhất là thủ tục làm sổ đỏ, tiếp cận đất đai,..thì nay qua lăng kính đánh giá của các tổ chức độc lập quốc tế, Nhân dân, doanh nghiệp, ngành ta đã có bước chuyển biến rất rõ qua từng năm.

 Theo khảo sát của PAPI, tỷ lệ người dân phản ánh phải bôi trơn khi làm thủ tục sổ đỏ giảm 29% so với năm 2015, chỉ số hài lòng đối với trường hợp bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp đạt 68%. Chỉ số tiếp cận đất đai tăng 0,27 điểm. Các chỉ đo lường sự hài lòng của người dân (SIPAS) đối với 2 dịch vụ công về đất đai và môi trường tăng đều qua 3 năm, trong đó chỉ số đánh giá về tiếp cận dịch vụ công tăng từ 73,7 năm 2016  lên 80,03 điểm năm 2018; chỉ số đánh giá về quy định về TTHC từ 73,5 lên 84,53 điểm; chỉ số đánh giá sự phục vụ của công chức tăng từ 74,3 lên 81,52 điểm; chỉ số đánh giá kết quả giải quyết TTHC tăng từ 73,7 lên 85,25 điểm.

Chỉ số đăng ký tài sản (gồm đất đai, nhà ở, tài sản gắn liền với đất) xếp 60/190 quốc gia được đánh giá. Tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận đã đạt 97,5%.

Trong công tác phối hợp, Bộ đã lắng nghe tiếng nói từ địa phương cơ sở để hoàn thiện chính sách theo hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản như: Nghị định số 01 năm 2017 giải quyết các vướng mắc về chính sách đất đai; Nghị định số 40 năm năm 2019 giải quyết các vấn đề về môi trường. Trên cơ sở các kiến nghị địa phương gửi về và sau 02 Hội nghị giao ban vùng sẽ tiếp tục trình ban hành các văn bản, ban hành theo thẩm quyền tháo gỡ các vướng mắc.

HN GiaobanPhiaBac 2Toàn cảnh Hội nghị 

6 tháng đầu năm 2019: Ban hành gần 3 nghìn văn bản giải đáp, hướng dẫn 

Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2019, toàn ngành đã chỉ đạo giải quyết tháo gỡ các vướng mắc cụ thể từ thực tiễn với gần 3 nghìn văn bản giải đáp, hướng dẫn (riêng Bộ đã ban hành 1.300 văn bản) các văn bản này sẽ được tập trung thành cơ dữ liệu để các địa phương nghiên cứu, tổ chức triển khai. Các tỉnh, thành phố đã tổ chức thực hiện tốt chính sách, pháp luật tạo sự chuyển biến lớn trên thực tiễn.

“Kết quả trên có sự quan tâm rất lớn của các Tỉnh uỷ, Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong công tác chỉ đạo, lãnh đạo công tác quản lý tài nguyên và môi trường ở địa phương” – Bộ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh.

Từ tình hình thực tiễn, qua nắm tình hình địa phương, và hội nghị giao ban các tỉnh phía Nam, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, công tác quản lý tài nguyên và môi trường còn một số hạn chế và những thách thức to lớn cần phải vượt qua.

Trước hết, nổi lên là nhu cầu khai thác, sử dụng các nguồn lực tài nguyên ngày càng tăng, đòi hỏi cần phải có các giải pháp sử dụng hợp lý thông qua giải quyết tốt bài toán quy hoạch.

Chính sách, pháp luật còn có sự chồng chéo, mâu thuẫn như quy định của pháp luật đất đai, pháp luật về đấu thầu, pháp luật về quản lý tài sản công; một số chính sách (như Luật quy hoạch) chưa phù hợp với thực tiễn dẫn đến khó khăn lúng túng khi áp dụng, triển khai.

Khiếu kiện về đất đai đã giảm nhưng các vụ việc tồn đọng là các vụ việc khó, phức tạp, kéo dài nhiều năm; khiếu kiện về môi trường đang nổi lên ở nhiều địa phương đặt ra cho những yêu cầu cần phải giải quyết một các tổng thể từ cơ chế chính sách, đến quy hoạch, đến công nghệ xử lý và trách nhiệm của từng người dân, doanh nghiệp.

Nhiều vấn đề có tính liên vùng, liên ngành, liên quốc gia trong quản lý tài nguyên, môi trường chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành, giữa các địa phương, chưa có cơ chế chia sẻ giữa các quốc gia.

Ô nhiễm môi trường vẫn diễn biến phức tạp do tác động tích lũy trong thời gian dài; khai thác cát sỏi trái phép còn xảy ra ở nhiều địa phương; BĐKH ngày càng phức tạp, khó lường, các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng;

Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu của ngành còn chậm; mạng lưới quan trắc, công nghệ dự báo, cảnh báo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao.

Có tình trạng cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao để đình trệ công việc ảnh hưởng phát triển kinh tế của địa phương và của đất nước; một số trường hợp cố tình vi phạm pháp luật, nhũng nhiều, phiền hà trong thực thi công việc đến mức bị xử lý kỷ luật đây là bài học đau xót đối với toàn ngành.

Nguyễn Tuấn Hùng Vụ Pháp chếÔng Phan Tuấn Hùng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ TN&MT báo cáo tại Hội nghị 

Thảo luận 5 vấn đề trọng tâm

Khẳng định tầm quan trọng của Hội nghị, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết: Hội nghị ngày hôm nay có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bối cảnh chúng ta đang chuẩn bị các văn kiện, kế hoạch phát triển KT-XH thời kỳ 2021-2030 phục vụ Đại hội các cấp tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; chuẩn bị triển khai xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 và tập trung hoàn thành các chỉ tiêu phát triển KT-XH năm 2019 của đất nước và từng địa phương. Tại hội nghị khu vực phía Nam với tinh thần cởi mở, thẳng thắn, Bộ và các tỉnh, thành phố đã trao đổi rất tích cực, hiệu quả hơn 30 nội dung liên quan đến tổ chức cán bộ, đất đai, môi trường, khoáng sản, biển và hải đảo, tương tác chia sẻ thông tin, dữ liệu,...

Bộ trưởng Trần Hồng Hà  chỉ ra 5 vấn đề trọng tâm để các đại biểu dự Hội nghị giao ban công tác quản lý tài nguyên và môi trường các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc cùng trao đổi, thảo luận bàn về một số giải pháp quan trọng.

Một là, thảo luận các chủ trương, cơ chế, chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm tạo được các đột phá có tính cách mạng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về TN&MT, phát huy nguồn lực tài nguyên, bảo vệ môi trường, chuyển hoá thách thức của biến đổi khí hậu thành cơ hội cho phát triển, trên có sở đó đưa vào các văn kiện, Nghị quyết Đại hội đảng các cấp để huy động toàn hệ thống chính trị trong triển khai thực hiện.

Hai là, tập trung thảo luận về Luật sửa đổi một số điều của Luật đất đai, và Luật sửa đổi một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Ba là, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng ưu tiên trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 để giao chỉ tiêu trách nhiệm cho tưng cấp, từng ngành.

Bốn là, tinh thần của Thủ tướng là kiên định mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, không điều chỉnh bất cứ một chỉ tiêu nào. Ngành TN&MT với vai trò là cơ quan quản lý các tư liệu, nguồn lực đầu vào và đầu ra cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội cần phải đặt quyết tâm rất cao với tinh thần chủ động, sáng tạo để triển khai các nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ mong muốn trực tiếp lắng nghe phản ánh các vướng mắc và cùng các đồng chí thảo luận, trao đổi, giải đáp, tháo gỡ để khơi thông các điểm nghẽn cho phát triển.

Năm là, tiếp tục thảo luận và chia sẻ những kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả cải cách hành chính, mang lại sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp.

Phóng viên Báo Tài nguyên và Môi trường tiếp tục cập nhật diễn biến Hội nghị quan trọng này trong các bản tin tiếp theo.

Khương Trung – Thanh Tâm

Tag: Ô nhiễm môi trường, quan trắc tiếng ồn, quan trắc môi trường,  cấp phép xả thải

Bộ TN&MT triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019

đăng 03:17, 11 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(TN&MT) - Chiều 9/7, Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cùng các Thứ trưởng: Võ Tuấn Nhân, Nguyễn Thị Phương Hoa, Trần Quý Kiên, Lê Công Thành đã chủ trì Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ.

Chủ động giải quyết các nhiệm vụ của Bộ TN&MT

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Trần Hồng Hà ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 6 tháng đầu năm 2019.
Khái quát về tình hình thực hiện nhiệm vụ thời gian qua, Bộ trưởng Trần Hồng Hà nêu rõ, trong 6 tháng đầu năm 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quyết liệt chỉ đạo triển khai thực hiện các Nghị quyết số 01/NQ-CP và 02/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ với tinh thần “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn để kiến tạo, tạo động lực tăng trưởng bứt phá.

toancanh1Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà (giữa) cùng các Thứ trưởng: Võ Tuấn Nhân, Nguyễn Thị Phương Hoa, Trần Quý Kiên, Lê Công Thành chủ trì Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019

Đối với những kết quả đạt được của ngành tài nguyên và môi trường trong 06 tháng đầu năm, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết: Thủ tục hành chính tiếp tục được đơn giản hóa nhất là trong lĩnh vực môi trường, số thủ tục thực hiện theo hình thức trực tuyến vượt mức Thủ tướng Chính phủ giao; hoàn thành việc giám sát quy hoạch, quản lý sử dụng đất đai ở đô thị, nguồn thu từ đất dự kiến vượt kế hoạch đề ra, tỷ lệ cấp giấy chứng nhận đạt 97,3% diện tích cần cấp, tỷ lệ người có đất nông nghiệp bị thu hồi hài lòng về mức bồi thường đạt 68% (qua khảo sát của PAPI); thu tiền từ cấp quyền khai thác tài nguyên nước lũy kế đến nay đạt 9.000 tăng 2.000 tỷ so với năm 2018. Các chỉ số PAPI, chỉ số đo lường mức độ hài lòng của người dân, chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin, chỉ số CCHC,… đều tăng.

Ứng phó với BĐKH đã huy động được sự chung tay của hệ thống chính trị nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Thủ tướng Chính phủ cũng khen ngợi những nỗ lực, hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức thành công Hội nghị đánh giá kết quả hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long đã được Thủ tướng Chính phủ khen ngợi. Hội nghị được đánh giá là đã chuyển biến từ chính sách đến hành động và được các tổ chức quốc tế đã ghi nhận tinh thần nhìn thẳng vào sự thật tìm ra giải pháp để đưa Nghị quyết 120 vào cuộc sống.

BoTNMT SK6T 14Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà phát biểu chỉ đạo Hội nghị

Bên cạnh đó, Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng ghi nhận những nỗ lực của các cấp để ra phong trào mạnh mẽ đối với việc chống sử dụng rác thải nhựa một lần được hưởng ứng mạnh mẽ từ trung ương đến địa phương và lan toả tới mọi tầng lớp nhân dân.

Trong 6 tháng cuối năm 2019, Bộ trưởng nhìn nhận còn nhiều những khó khăn, thách thức đặt ra cho ngành TN&MT. Đó là những thách thức toàn cầu về môi trường, đại dương, BĐKH. Cụ thể, tại các địa phương vẫn đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn nước, tranh chấp đất đai, khai thác khoáng sản trái phép… "Đây là những vấn đề mà Bộ TN&MT phải chủ động giải quyết”, Bộ trưởng nói.

Người đứng đầu ngành TN&MT chỉ rõ, phải tháo gỡ được những bất cập, chồng chéo trong cơ chế, chính sách quản lý đất đai từ Trung ương ương đến địa phương. Cũng đã đến lúc, phải giải quyết tận gốc vấn đề rác thải – vốn đã trở thành một vấn đề gây bất ổn trong xã hội.
Bên cạnh đó, trong lĩnh vực tài nguyên nước một số khu vực vẫn đang gặp bất cập với nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, tưới tiêu. Với vai trò “cầm cân nảy mực”, Bộ trưởng đề nghị cần tìm ra biện pháp để giúp các địa phương, người dân giải quyết mối xung đột về nguồn nước này.

Để hoàn thành được những mục tiêu của năm 2019, Bộ trưởng đề nghị trong 06 tháng cuối năm các đơn vị cần tập trung hơn nữa, nỗ lực hơn nữa để thực hiện những nhiệm vụ được giao, bảo đảm tiến độ, chất lượng nhiệm vụ Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bộ trưởng đề nghị, các đại biểu tại Hội nghị sơ kết cần tập trung xem xét những tồn tại, vướng mắc trong công tác chỉ đạo điều hành; thảo luận, đánh giá kỹ các đề án, nhiệm vụ trong thời gian tới; báo cáo rõ những vấn đề về tài chính, thẳng thắn tập trung thảo luận, đề xuất những ý kiến cụ thể, tham gia đóng góp các ý kiến về cơ chế phối hợp để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao…

Hội nghị đã nghe và thảo luận thắng thắn, cởi mở về các báo cáo như: Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn tạo động lực cho phát triển; Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc từ thực tiễn; Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; triển khai và ứng dụng khoa học và công nghệ để hiện đại hóa ngành TN&MT…

Trước mỗi nội dung, vấn đề, tồn tại cần khắc phục của các lĩnh vực Bộ trưởng Trần Hồng Hà và các Thứ trưởng phụ trách lĩnh vực đã phân tích, chỉ ra những hạn chế đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể để các đơn vị cùng nhau thống nhất quan điểm cùng hướng đến mục tiêu chung của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong năm 2019.

Triển khai công việc tập trung vào tính hiệu quả và khả thi

Kết luận hội nghị, Bộ trưởng Trần Hồng Hà đề nghị lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, bám sát địa phương cơ sở nắm chắc tình hình, chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng, cấp bách; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ; đối thoại, lắng nghe, giải quyết kiến nghị, tháo gỡ khó khăn của người dân, doanh nghiệp.

Đối với từng lĩnh vực quản lý chuyên ngành, Bộ trưởng đề nghị thủ các đơn vị cần tập trung phát huy năng lực quản lý nhà nước, sử dụng bền vững, phát huy hiệu quả các nguồn lực tài nguyên cho phát triển. Trong đó, tập trung cải thiện chỉ số tiếp cận đất đai, nâng cao chỉ số đăng ký tài sản, giải quyết các tồn tại hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị, khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai; Tăng cường quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên nước; Tăng cường điều tra cơ bản, phát huy nguồn lực khoáng sản cho phát triển kinh tế đất nước; Tập trung tạo chuyển biến căn bản trong công tác BVMT, phấn đấu mục tiêu vượt chỉ tiêu đặt ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ; Đổi mới công tác dự báo, đa dạng hoá sản phẩm khí tượng thuỷ văn phục vụ phát triển KT-XH, phòng chống thiên tai; tập trung nghiên cứu các giải pháp tổng thể ứng phó với biến đổi khí hậu; Triển khai xây dựng hạ tầng không gian địa lý, tích hợp các dữ liệu nền tảng để sẵn sàng cho ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0…

BT THHBộ trưởng Trần Hồng Hà phát biểu kết luận tại Hội nghị


Ngoài ra, đối với những nhiệm vụ quan trọng của Bộ cần thực hiện trong thời gian tới, Bộ trưởng đề nghị thủ trưởng các đơn vị cần xem xét và chỉ đạo đơn vị cần mạnh mẽ hơn nữa, kỷ luật kỷ cương phải đặt lên hàng đầu., công tác chỉ đạo điều hành phải có tính hệ thống và khoa học.

Cụ thể, với vấn đề xây dựng chính sách pháp luật, thể chế, Bộ trưởng đề nghị Vụ pháp chế cùng các đơn vị cần xây dựng các kế hoạch có tính hệ thống và khoa học để xây dựng và bảo đảm chất lượng dự thảo văn bản quy phạm phát luật và hoàn thành 100% chương trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2019 của Bộ, trong đó có những bộ luật rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội như luật đất đai, luật môi trường, luật đo đạc bản đồ…

Bên cạnh đó, công tác cải cách thủ tục hành chính (CCHC) của Bộ được đánh giá một cách khách quan cho thấy việc trao đổi, chia sẻ thông tin, cơ chế phối hợp công tác giữa Bộ và các địa phương tiếp tục được củng cố, tăng cường.

SK 6TToàn cảnh Hội nghị

Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu đặt ra, theo người đứng đầu ngành tài nguyên và môi trường, trong thời gian tới các đơn vị của Bộ Tài nguyên và Môi trường cần nghiêm túc xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch CCHC và có các biện pháp khắc phục ngay các tồn tại tại đơn vị mình; Chủ động nắm bắt, trao đổi thông tin; trả lời kịp thời, đầy đủ phản ánh, kiến nghị của người dân, tổ chức về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý. “Thủ trưởng đơn vị trực thuộc Bộ chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về kết quả CCHC của đơn vị; nếu để mất điểm CCHC từ nguyên nhân chủ quan thì sẽ xem xét xử lý theo quy định và phân loại đánh giá công chức, viên chức.” – Bộ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh.

Trong công tác thanh tra, kiểm tra, bên cạnh công tác tăng cường trao đổi và chia sẻ thông tin, giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn với địa phương; sẵn sàng hỗ trợ địa phương trong quá trình triển khai các cơ chế, chính sách, pháp luật và giải quyết, tháo gỡ khó khăn cũng như những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra. Bộ trưởng cho rằng, “công tác thanh tra cần nhấn mạnh, tập trung vào tính hiệu quả và khả thi. Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra cần chọn đúng mục tiêu; số cuộc thanh tra, kiểm tra không cần nhiều nhưng khi thực hiện minh bạch và hiệu quả.”

Nhiệm vụ trọng tâm 06 tháng cuối năm 2019

Để thực hiện thành công mục tiêu năm 2019 là năm bứt phá về mọi mặt, Bộ TN&MT đặt quyết tâm cao hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong chương trình công tác năm, chương trình hành động của ngành thực hiện các Nghị quyết số 01/NQ-CP, 02/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ; trong 6 tháng cuối năm 2019, các đơn vị cần tập trung hoàn thành việc xây dựng trình 58 đề án, văn bản QPPL còn lại trong Chương trình công tác, Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2019 của Bộ; đồng thời tiếp tục đổi mới tư duy hành động; chủ động, sáng tạo trong công tác điều hành; dự báo, phản ứng chính sách kịp thời để vượt qua khó khăn, thách thức tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong công tác quản lý sử dụng tài nguyên, chủ động trong công tác BVMT và ứng phó với BĐKH đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Cụ thể là:

1.Tập trung tháo gỡ các vướng mắc, tạo đột phá về thể chế để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững. Sửa đổi Luật đất đai hoàn thiện các công cụ kinh tế, tài chính, đổi mới phương pháp định giá đất để quản lý, điều tiết các quan hệ đất đai phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, phòng chống thất thoát, lãng phí trong quản lý, sử dụng đất.

Sửa đổi Luật BVMT giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và BVMT. Trình Chính phủ 05 Nghị định thuộc Chương trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2019

2. Tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý kịp thời vấn đề bức xúc, điểm nóng phát sinh. Ưu tiên cho nguồn lực cho, kiểm tra thanh tra việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với các tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, việc sử dụng đất của các nông, lâm trường, việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng, xả nước thải vào nguồn nước, thanh tra chuyên đề xác định sản lượng khoáng sản khai thác thực tế, việc chấp hành pháp luật KTTV. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết các vụ việc Thủ tướng Chính phủ giao và các vụ việc tồn đọng kéo dài.

3. Tiếp tục đẩy mạnh CCHC gắn với xây dựng Chính phủ điện tử, thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh. Hoàn thiện quy trình liên thông trong giải quyết các TTHC thuộc các lĩnh vực môi trường, tài nguyên nước, biển và hải đảo. Thực hiện cung cấp Dịch vụ công trực tuyến đối với tất các các TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ…

Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, công chức; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ nhất là trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết thủ tục hành chính. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan đơn vị nếu để xảy ra tình trạng cán bộ vi phạm các quy định của pháp luật, nhũng nhiễu trong thực thi công vụ.

4. Tăng cường kỷ luật ngân sách, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, kiểm tra, giám sát chặt chẽ đầu tư công, sử dụng tài sản công, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong sử dụng ngân sách, tiết kiệm trong tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết, công tác nước ngoài. Điều hành dự toán ngân sách nhà nước linh hoạt, trong đó tập trung nguồn lực tài chính thực hiện các vấn đề cấp bách của ngành TN&MT theo chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cần tập trung ưu tiên của ngành trong Kế hoạch phát triển KT-XH và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020.

5. Tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu KH&CN; gắn nghiên cứu với chuyển giao, thực hiện cơ chế đấu thầu đặt hàng để khoa học công nghệ đóng góp vào sự phát triển của ngành. Tăng cường phối hợp nghiên cứu KH&CN giữa các đơn vị trong và ngoài Bộ, lấy một số Viện và hai trường đại học trực thuộc Bộ làm nòng cốt để hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh về TN&MT, tập trung trước mắt vào các lĩnh vực môi trường; tài nguyên nước; địa chất và khoáng sản; biển và hải đảo.

6. Tiếp tục hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế; thúc đẩy, mở rộng các diễn đàn đối thoại, tham vấn chính sách nhất là trong sửa đổi Luật đất đai và Luật BVMT. Rà soát, thể chế hóa các hiệp định, cam kết mà Việt Nam đã tham gia.

7. Tổ chức thực hiện các chương trình truyền thông, mô hình truyền thông về TN&MT nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng trong thực hiện các biện pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thay đổi thói quen tiêu dùng, giảm thiểu việc sử dụng các sản phẩm nhựa sử dụng một lần.

 

Khương Trung – Tuyết Chinh - Hoàng Minh

Tag: Quan trắc môi trường, ô nhiễm môi trường , Cấp phép xả thải, gia hạn xả thải

Việt Nam sẽ cấm đồ nhựa dùng 1 lần

đăng 21:58, 9 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường

(Tin Môi Trường) - Tại Hội nghị thượng đỉnh G20 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa khẳng định Việt Nam quyết tâm chống rác thải nhựa và đang triển khai nhiều giải pháp mạnh mẽ để phấn đấu đến năm 2025 không sử dụng đồ nhựa dùng một lần.
Việt[-]Nam[-]sẽ[-]cấm[-]đồ[-]nhựa[-]dùng[-]1[-]lần
Đồ nhựa dùng một lần hiện đang được sử dụng rất phổ biến ở VN - Ảnh: Q.Đ.
 
Đây là lần thứ hai Thủ tướng khẳng định quyết tâm chống rác thải nhựa. Trước đó tại lễ ra quân quốc gia chống rác thải nhựa, tổ chức ở Hà Nội ngày 9-6, Thủ tướng cũng nhấn mạnh mục tiêu phấn đấu đến năm 2021 các cửa hàng, các chợ, các siêu thị ở đô thị không sử dụng đồ nhựa dùng một lần, đến năm 2025 cả nước không sử dụng đồ nhựa dùng một lần.
 
Hành động ngay!
 
Thông tin từ Bộ TN-MT cho biết ngay sau lễ ra quân chống rác thải nhựa, TP Hà Nội đã triển khai các hoạt động ký cam kết với các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị về lộ trình không sử dụng sản phẩm đồ nhựa dùng một lần. 
 
"UBND TP Hà Nội đã kêu gọi và chứng kiến việc ký bộ quy tắc ứng xử chống rác thải nhựa của 41 đại sứ quán và các cơ quan ngoại giao đóng trên địa bàn TP, đồng thời đã xây dựng bộ quy tắc ứng xử giảm thiểu chất thải nhựa tại các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện, thị xã trên địa bàn Hà Nội" - ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND TP Hà Nội, cho hay.
 
Theo ông Chung, ngay sau chỉ đạo của Thủ tướng, Hà Nội đã tập trung triển khai việc tổ chức ký cam kết chống rác thải có nguồn gốc từ nhựa trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và phân phối tiêu dùng của TP Hà Nội và một số tỉnh, TP đến 100% các doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phân phối.
 
"Hà Nội sẽ thực hiện đúng mục tiêu đến ngày 31-12-2020, 100% các trung tâm thương mại, siêu thị không dùng túi nilông" - ông Chung nói.
 
Còn tại Thừa Thiên Huế, từ tháng 5-2019, Chủ tịch UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ đã yêu cầu toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn gương mẫu đi đầu và vận động thực hiện các biện pháp giải quyết vấn đề rác thải nhựa. 
 
Tỉnh Thừa Thiên Huế yêu cầu các cơ quan, đơn vị không sử dụng nước uống đóng chai sử dụng một lần trong công sở và khi tổ chức các hội nghị hội thảo, không sử dụng túi nilông, khăn lau sử dụng một lần trong tất cả các hoạt động của cơ quan, đơn vị và tại các hội nghị, hội thảo. 
 
Tỉnh cũng chỉ đạo Sở Tài chính không thanh toán các khoản chi trong cơ quan hành chính nhà nước đối với việc sử dụng các sản phẩm nhựa, nilông sử dụng một lần, khó phân hủy.
 
Việt[-]Nam[-]sẽ[-]cấm[-]đồ[-]nhựa[-]dùng[-]1[-]lần
Mỗi ly nước bằng nhựa bán ra kèm theo 2-3 món đồ khác bằng nhựa như ống hút nhựa, muỗng nhựa, nắp đậy cũng bằng nhựa (ảnh chụp một xe nước ở khu trung tâm TP.HCM) - Ảnh: THANH YẾN
 

Việt[-]Nam[-]sẽ[-]cấm[-]đồ[-]nhựa[-]dùng[-]1[-]lần

 
Để không là phong trào
 
Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà cho rằng phong trào chống rác thải nhựa phải làm bền bỉ, thường xuyên mới hiệu quả. 
 
"Sắp tới sẽ triển khai tiếp để 63 tỉnh thành cùng làm quyết liệt. Khi chính quyền địa phương, các ban, ngành, tổ chức, đoàn thể ở địa phương vào cuộc mạnh mẽ, người dân địa phương ủng hộ, thay đổi hành vi, từ bỏ thói quen dùng túi nilông, khi đó chất thải nhựa mới giảm bớt" - ông Hà nói.
 
Ông Hà cũng khẳng định phong trào chống rác thải nhựa không chỉ tổ chức cao trào xong lại chùng xuống, mà phải làm đến khi đạt được mục tiêu như Thủ tướng nêu: phấn đấu đến năm 2021 các cửa hàng, các chợ, các siêu thị ở đô thị không sử dụng đồ nhựa dùng một lần, đến năm 2025 cả nước không sử dụng đồ nhựa dùng một lần.
 
Vì vậy, theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, rất cần tuyên truyền, truyền thông nâng cao nhận thức về tác hại của chất thải nhựa, túi nilông, đồng thời xây dựng các giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu tiêu thụ, tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải nhựa đến cộng đồng và người dân.
 
Ngoài giải pháp truyền thông, nâng cao nhận thức để thay đổi thói quen, ông Hà cho rằng giải pháp về quản lý bằng các chính sách kinh tế, chính sách thuế trong hạn chế những sản phẩm đồ nhựa dùng một lần cũng rất quan trọng.
 
"Tôi cho rằng cần có tiếp những chính sách thuế cao hơn với các sản phẩm nhựa không thân thiện với môi trường. Đồng thời cần có những chính sách tài chính khuyến khích hỗ trợ các nhà sản xuất có công nghệ mới, sản xuất ra các sản phẩm thân thiện với môi trường, khuyến khích hỗ trợ người dân bằng những sản phẩm thân thiện với môi trường để từng người, từng nhà bỏ thói quen dùng túi nilông" - ông Hà nói.
 
Việt[-]Nam[-]sẽ[-]cấm[-]đồ[-]nhựa[-]dùng[-]1[-]lần
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2017 - Đồ họa: T.ĐẠT
 
Mạnh tay với phế liệu nhập khẩu
 
Về công tác quản lý đối với phế liệu nhập khẩu, trong đó có phế liệu nhựa, Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà cho biết nghị định 40 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 1-7 đã khắc phục được những bất cập trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.
 
Đặc biệt, đối với nhựa phế liệu, nghị định 40 quy định chặt chẽ hơn, đó là chỉ được nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất ra các sản phẩm, hàng hóa.
 
"Trong nghị định sửa đổi lần này đã đưa vào quy định từ 1-1-2025 chỉ cho phép nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất ra các sản phẩm có giá trị thương mại cao, chứ không cho nhập khẩu phế liệu về để sản xuất ra các sản phẩm trung gian như hạt nhựa hay bột giấy nữa" - một lãnh đạo Tổng cục Môi trường cho hay.
 
Cấm là hữu hiệu nhất
 
Trong số các biện pháp giúp giảm tiêu thụ những loại đồ nhựa dùng một lần thì việc ban hành lệnh cấm hiện vẫn là giải pháp hiệu quả nhất. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, việc sử dụng túi nhựa đã giảm tới 80% kể từ khi lệnh cấm có hiệu lực trên toàn quốc vào đầu năm nay, theo trang Sustainability Times.
 
Theo Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc, cho đến nay hơn 80 quốc gia đã đưa ra các lệnh cấm sử dụng đồ nhựa như vậy. Nhiều quốc gia đã nối đuôi nhau cấm hoặc đánh thuế đối với các túi nhựa dùng một lần như Úc, Anh, Pháp, Hà Lan, New Zealand...
 
Trong khi đó, theo Đài CNN, Kenya có lẽ là trường hợp ban hành luật hà khắc nhất: những ai bán hoặc sử dụng túi nhựa có thể đối mặt án tù 4 năm hoặc mức phạt lên tới 39.000 USD. Mới nhất là New Zealand với lệnh cấm túi nhựa dùng một lần chính thức có hiệu lực từ đầu tháng này, những nhà bán lẻ nào vi phạm lệnh cấm có thể bị phạt lên tới 67.000 USD.
 
Phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu
 
Bình luận về tuyên bố của Thủ tướng, bà Huỳnh Thị Mỹ - tổng thư ký Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) - nói: "Việt Nam đã và đang hòa nhập ngày một sâu rộng với nền kinh tế thế giới và thông điệp nêu trên của Thủ tướng hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của toàn cầu nói chung, cũng như mục tiêu quan trọng về môi trường mà Việt Nam nỗ lực hướng đến.
 
Mục tiêu này hoàn toàn có thể thực hiện được khi có sự đồng bộ phối hợp chặt chẽ từ chính sách đến các biện pháp thực thi, giữa chính quyền và mỗi người dân trong từng cụm dân cư".
 
* Nhưng thực tế, vấn nạn túi nilông đang tràn lan, rất khó kiểm soát và giảm thiểu?
 
- Với vấn nạn túi nilông, muốn giảm thiểu sử dụng cần áp dụng đồng bộ và lâu dài nhiều giải pháp quản lý, bao gồm các giải pháp mang tính pháp lý, các giải pháp kinh tế, các giải pháp khuyến khích và tuyên truyền ngắn hạn lẫn dài hạn.
 
Từ đó mới tiến đến hạn chế và xa hơn là tiến tới cấm sử dụng. Muốn vậy, từ bây giờ phải xác định loại hình túi đựng hàng có thể thay thế ít gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
 
Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý sẽ đưa ra chính sách nhằm định hướng người bán lẻ cũng như người tiêu dùng chuyển từ sử dụng túi nilông sang loại túi đựng hàng thân thiện với môi trường một cách tự nguyện hoặc bắt buộc.
 
* Việt Nam thải ra lượng nhựa lớn, trong đó rất nhiều nhựa dùng một lần. Nhưng việc thu gom, tái chế hiện nay chưa phát triển tương ứng?
 
- Nói đến năng lực xử lý rác thải thì phải nói đến cả một quy trình, từ thu gom rác thải đến phân loại và điểm đến cuối là các dây chuyền tái chế.
 
Trong quy trình này, chúng tôi đánh giá hệ thống thu gom truyền thống là "lực lượng" thu lượm ve chai đã làm rất tốt công việc của mình. Họ không bỏ sót bất cứ vật dụng nào, dù nhỏ nhất, đặc biệt với rác thải loại từ nhựa. Vì đó chính là tiền, là nguồn lợi lớn nhất.
 
Tôi xin nhấn mạnh: không có nguồn thải từ nhựa nào là không có giá trị cả.
 
Còn ở khâu phân loại rác thải sinh hoạt thì lại chưa có sự đồng bộ phân loại tại nguồn từ các hộ gia đình, khiến các dây chuyền xử lý rác thải còn lẫn nhựa sau thu gom không có sự đồng nhất, không đảm bảo hiệu quả vận hành cho một quy trình tái chế rác thải công nghiệp chuẩn.
 
Điều này đưa đến những chu trình liên quan đến xử lý rác thải đều dừng ở mức trung bình theo kiểu "làng nghề" đối với thành phần thu gom ve chai. Còn tầm doanh nghiệp thì quy mô rời rạc. Theo tôi, nên giao cho tư nhân nếu Nhà nước không thể đảm đương được việc thu gom rác thải sinh hoạt để phân loại từ đầu nguồn.
T.T

Thủ tướng: Quảng Ngãi cần quan tâm đảm bảo môi trường và những giá trị toàn cầu

đăng 02:29, 3 thg 7, 2019 bởi Việt Bắc Môi trường


Hàng trăm người dân căng băng rôn, khẩu hiệu, loa phát thanh tập trung tại Cụm công nghiệp Lương Điền thuộc xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương để phản đối việc DN xả thải trực tiếp ra môi trường.

Hành vi xả thải ra môi trường tại CCN này khiến người dân rất bức xúc và phản ánh rất nhiều trong thời gian qua, nhiều lần kiến nghị đến các cấp có thẩm quyền, tuy nhiên, không được giải dứt điểm.

Trong quá trình hoạt động của CCN Lương Điền, người dân địa phương đã nhiều lần phát hiện việc xả thải trực tiếp ra môi trường vào hệ thống mương máng tưới tiêu. Họ đã múc nước ô nhiễm làm bằng chứng để trước cửa công ty và còn mời đại diện UBND xã Lương Điền ra chứng kiến.

Việc CCN với hàng chục doanh nghiệp đang hoạt động mà không xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, xả thải trực tiếp ra môi trường đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống cũng như quá trình sản xuất nông nghiệp người dân địa phương.

Nước thải theo mương tưới tiêu ra cánh đồng khiến cây lúa tuy phát triển nhanh hơn bình thường, xanh tốt hơn nhưng bông lúa ít hạt đi rất nhiều, chỉ bằng 1 nửa năm ngoái. Trừ công cán và các chi phí thì vụ lúa năm nay coi như lỗ lớn.

Băng rôn của người dân yêu cầu tạm dừng hoạt động xả thải chưa qua xử lý.

Trước tình hình trên, Sở TN&MT Hải Dương đã nhanh chóng có công văn gửi Cty Cổ phần đầu tư xây dựng Trường Dương - chủ đầu tư, kinh doanh hạ tầng CCN Lương Điền (xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương), trong đó yêu cầu, Cty này rà soát lại hệ thống thoát nước thải của CCN Lương Điền. Đồng thời, yêu cầu các DN đang đấu nối nước thải vào hệ thống thoát nước mưa của CCN phải đấu nối về hệ thống thoát nước thải của CCN theo quy định.

Trước đó, cuối năm 2018, Sở TN&MT tỉnh Hải Dương công bố kết luận thanh tra chỉ nhiều sai phạm còn tồn tại của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Trường Dương – chủ đầu tư, kinh doanh hạ tầng CCN Lương Điền (xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Đáng chú ý, kết luận Thanh tra chỉ rõ, chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải cụm công nghiệp trên diện tích 0,7 ha theo quy hoạch chi tiết đã được UBND tỉnh Hải Dương phê duyêt. 

Ngày 26/6, UBND huyện Cẩm Giàng, đại diện Sở TN&MT Hải Dương và Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng Trường Dương đã có buổi đối thoại với người dân.

Đại diện Sở TN&MT Hải Dương cho hay, ngay khi có ý kiến của người dân về tình trạng ô nhiễm môi trường tại CCN Lương Điền, Sở đã phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra đột xuất việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, xả thải của các DN đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trong CCN này. Sở sẽ tổng hợp kết quả, đánh giá, đề xuất biện pháp xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật trong thời gian sớm nhất.

Cty Cổ phần đầu tư xây dựng Trường Dương cam kết sẽ hoàn thành đấu nối nước thải của các nhà đầu tư thứ cấp vào hệ thống nước thải của CCN theo quy định trước ngày 10/7; triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung của CCN trước ngày 31/12/2019.

Ngoài ra, Cty cam kết, trong thời gian xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, Cty chấp nhận thu gom, chuyển giao hoặc thuê đơn vị có chức năng xử lý nước thải đảm bảo theo các quy định trước khi xả thải ra môi trường. Trong trường hợp chậm tiến độ Cty sẽ có thông báo rõ lý do đến người dân, cơ quan chức năng.

CCN Lương Điền đã trở lại hoạt động bình thường.

Tới nay, đa số người dân đã đồng tình, hài lòng, thông qua về cách xử lý như trên và chờ đợi động thái đến từ Cty như cam kết.

HƯNG GIANG

1-10 of 403