Tin tức


Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn

đăng 18:30, 15 thg 5, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

moitruong.com.vn) Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg Phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo Quyết định được ký ngày 07/05/2018, mục tiêu đến 2025, 100% tổng lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cơ sở y tế, làng nghề phải được thu gom, vận chuyển và xử lý đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường;
 
Tận dụng tối đa lượng chất thải hữu cơ để tái sử dụng, tái chế, làm phân compost hoặc tự xử lý tại các hộ gia đình

85% chất thải rắn nguy hại phát sinh tại các hộ gia đình, cá nhân phải được thu gom, vận chuyển và xử lý đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường; sử dụng 100% túi nilon thân thiện với môi trường tại các Trung tâm thương mại, siêu thị phục vụ cho mục đích sinh hoạt thay thế cho túi nilon khó phân huỷ;

80% lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu dân cư nông thôn tập trung được thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tự xử lý, xử lý tập trung đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường; tận dụng tối đa lượng chất thải hữu cơ để tái sử dụng, tái chế, làm phân compost hoặc tự xử lý tại các hộ gia đình thành phân compost để sử dụng tại chỗ...

Chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn nguy hại được quản lý và kiểm soát chặt chẽ từ nguồn thải đến thu gom, vận chuyển và xử lý cuối cùng. Đa dạng hóa công nghệ xử lý chất thải rắn nguy hại bằng các công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Cũng theo Quyết định trên, các nhà sản xuất thiết bị điện tử phải thiết lập và công bố các điểm thu hồi sản phẩm thải bỏ theo quy định của pháp luật; người tiêu dùng có trách nhiệm chuyển các sản phẩm thải bỏ đến điểm thu hồi hoặc chuyển cho tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải theo đúng quy định của pháp luật để chuyển đến các điểm thu hồi theo quy định.

Bên cạnh đó, khuyến khích thu gom, xử lý chất thải nguy hại liên vùng, liên tỉnh; xây dựng, phát triển các cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung, quy mô vùng tỉnh, vùng liên tỉnh theo quy hoạch quản lý chất thải rắn được phê duyệt, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại;

Hạn chế phát triển và giảm dần về số lượng những cơ sở xử lý có quy mô nhỏ, phân tán có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; khuyến khích xây dựng các cơ sở xử lý, tái chế chuyên sâu đối với các loại chất thải nguy hại đặc thù đồng thời với việc phát triển các cơ sở xử lý có khả năng tái chế, xử lý đa dạng các loại chất thải nguy hại khác nhau; tăng cường việc chuyển giao chất thải giữa các cơ sở xử lý chất thải để tận dụng thế mạnh của mỗi cơ sở trong quá trình xử lý.

Hạn chế và tiến tới loại bỏ việc tự xử lý chất thải nguy hại tại nơi phát sinh có sử dụng công nghệ đốt hoặc chôn lấp; ưu tiên hoạt động đồng xử lý chất thải theo đúng quy định của pháp luật nhằm hạn chế tối đa việc thiêu hủy chất thải trong lò đốt chất thải chuyên dụng; tăng cường việc tái chế, tái sử dụng chất thải nguy hại; hạn chế việc cấp phép xử lý bằng biện pháp chôn lấp, hóa rắn đối với các loại chất thải nguy hại có khả năng tái chế, tái sử dụng.

Cùng với đó là đẩy mạnh việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch thu gom, vận chuyển, lưu giữ, trung chuyển chất thải nguy hại tại các địa phương, bảo đảm phù hợp với điều kiện của địa phương và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm tăng cường việc thu gom, xử lý đối với chất thải nguy hại phát sinh từ các chủ nguồn thải có khối lượng phát sinh thấp hoặc chủ nguồn thải chất thải nguy hại ở vùng sâu, vùng xa;

Khuyến khích xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình cụm, mô hình tập trung, hạn chế việc xử lý chất thải y tế phân tán tại các bệnh viện; ưu tiên xử lý chất thải y tế lây nhiễm bằng phương pháp không đốt, đặc biệt là việc tự xử lý chất thải y tế lây nhiễm tại nơi phát sinh; giảm dần về số lượng và hạn chế đầu tư mới lò đốt chất thải y tế nguy hại tại các cơ sở y tế cấp huyện.

Đặc biệt là xây dựng lộ trình, kế hoạch và triển khai cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cung cấp dịch vụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt; hướng dẫn thực hiện các dự án đầu tư phát triển và quản lý vận hành cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo quy định của pháp luật; thúc đẩy triển khai đầu tư xây dựng các dự án đầu tư xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hình thức đối tác công tư (PPP) phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng về phòng ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý chất thải rắn, hình thành lối sống thân thiện với môi trường.



Mai Anh (moitruong.com.vn)

Tin môi trường: 91% số ngày Hà Nội có mức ô nhiễm không khí vượt tiêu chuẩn của WHO

đăng 18:25, 15 thg 5, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

(Tin Môi Trường) - Theo dữ liệu mới của Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh (GreenID), 91% số ngày trong ba tháng đầu năm 2018, mức độ ô nhiễm không khí của Hà Nội vượt tiêu chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Tin[-]môi[-]trường:[-]91%[-]số[-]ngày[-]Hà[-]Nội[-]có[-]mức[-]ô[-]nhiễm[-]không[-]khí[-]vượt[-]tiêu[-]chuẩn[-]của[-]WHO

 

Cơ sở dữ liệu chất lượng không khí của WHO mới cập nhật chỉ ra rằng khoảng 90% số người trên thế giới đang phải tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và có tới khoảng 7 triệu người tử vong mỗi năm do phơi nhiễm với các hạt bụi siêu nhỏ trong không khí.
 
Trong khi tất cả các khu vực trên thế giới đều bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí, nhưng người dân ở các thành phố thu nhập thấp bị ảnh hưởng nhiều nhất. Khu vực có mức ô nhiễm không khí cao nhất là phía Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
 
Dựa trên cơ sở dữ liệu của WHO, GreenID phân tích và chỉ ra rằng người dân Hà Nội đang phải tiếp xúc với không khí bị ô nhiễm xếp thứ hai trong số 23 thành phố được khảo sát ở một số quốc gia Đông Nam Á (bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Indonesia).
 
“Chúng tôi đã phân tích chất lượng không khí ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên dữ liệu quan trắc công khai trong suốt ba năm qua và luôn kiến nghị lắp đặt thêm các trạm quan trắc để có bức tranh đầy đủ về chất lượng không khí ở Việt Nam”, Nguyễn Thị Anh Thư, nghiên cứu viên GreenID cho biết, “Chúng tôi cũng đang sử dụng nguồn dữ liệu hiện có để đưa ra những cảnh báo về hiện trạng chất lượng không khí để người dân có thể chủ động bảo vệ sức khỏe gia đình khi ô nhiễm ở mức cao."
 
Hiện tại Hà Nội chỉ có 13 trạm quan trắc không khí và thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 01 trạm công bố số liệu trực tuyến cho người dân.
 
GreenID cũng đã tiến hành một cuộc khảo sát công khai với 1.000 người, kết quả chỉ ra rằng: Giao thông vận tải, công nghiệp và sản xuất năng lượng được cho là ba nguồn ô nhiễm không khí hàng đầu tại các thành phố.
 
 "Tình trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam khó có thể cải thiện khi Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch xây dựng thêm khoảng 40 nhà máy điện than từ nay tới năm 2030." Bà Ngụy Thị Khanh –  Người Việt Nam đầu tiên được trao giải thưởng môi trường Goldman nhận định.
 
Bà Khanh nhấn mạnh: “GreenID kiến nghị chính phủ nhanh chóng tăng cường giám sát và kiểm soát ô nhiễm không khí thông qua các biện pháp như thúc đẩy ban hành đạo luật không khí sạch đồng thời thắt chặt các tiêu chuẩn phát thải của giao thông và các nhà máy nhiệt điện than."
TRANG NGUYÊN (Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh)

Ngày Môi trường thế giới năm 2018: “Giải quyết ô nhiễm nhựa và nilon”

đăng 18:01, 15 thg 5, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

Ngày Môi trường thế giới là sự kiện thường niên lớn nhất về bảo vệ môi trường được tổ chức vào ngày 5/6. Ngày môi trường thế giới năm nay là cơ hội để mỗi chúng ta, bằng nhiều cách giúp chống lại ô nhiễm chất thải nhựa trên toàn thế giới.
Theo báo cáo của Liên hợp quốc, mỗi năm chúng ta thải ra một khối lượng nhựa đủ để trải quanh Trái đất bốn lần, có khoảng 500 tỷ túi nhựa được tiêu thụ trên thế giới song phần lớn lượng rác thải nhựa không được chôn trong các bãi chôn lấp. Với nhịp độ sử dụng nhựa như hiện nay, sẽ có thêm 33 tỷ tấn nhựa được sản xuất vào năm 2050 và một phần lớn trong số đó sẽ nằm trong các đại dương nơi mà nó sẽ tồn tại trong nhiều thế kỷ. Với đặc tính bền vững trong tự nhiên, rác thải nhựa (chai nhựa, túi ni lông, hộp đựng đồ ăn, cốc,…) cùng với các chất gây ô nhiễm môi trường khác đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường, kinh tế, xã hội và sức khỏe con người. Chất thải nhựa trở thành một thách thức lớn đối với cộng đồng và xã hội.

Nhằm hưởng ứng sự kiện quan trọng này, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động vì môi trường” vào tối ngày 04/6 tại quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Năm nay, Lễ phát động với chủ đề “Giải quyết ô nhiễm nhựa và nilon” nhằm tuyên truyền, vận động, kêu gọi mọi người cùng nhau thay đổi thói quen cuộc sống hàng ngày để giảm gánh nặng ô nhiễm chất thải nhựa tới môi trường tự nhiên và sức khoẻ của chúng ta.

Để có những hành động, kết quả thiết thực, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hướng dẫn các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, các đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội tổ chức chuỗi hoạt động hưởng ứng Tháng hành động vì môi trường, hưởng ứng ngày Môi trường thế giới trên phạm vi cả nước.

Theo đó, Bộ TN&MT đề nghị các cơ quan, đơn vị tập trung triển khai một số nội dung, giải pháp tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ về nhiệm vụ giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018.

Tăng cường triển khai các giải pháp quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nhựa nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu rác thải nhựa vào môi trường tự nhiên, đặc biệt áp dụng các biện pháp nghiêm khắc đối với các cơ quan, doanh nghiệp vi phạm các quy định tại Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.

Đồng loạt tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới tạo thành chuỗi hoạt động thuộc "Tháng hành động vì môi trường" trên phạm vi cả nước. Tổ chức các hoạt động có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng như: Chiến dịch "Nói không với sản phẩm nhựa dùng một lần"; Chiến dịch ra quân làm vệ sinh môi trường, thu gom xử lý chất thải, rác thải, khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương, ao, hồ, hệ thống thoát nước; tổ chức các lớp học giáo dục môi trường, thực hiện các hoạt động thu gom và tái chế chất thải nhựa, túi ni lông tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, các khu dân cư…

Một số hoạt động hưởng ứng “Tháng hành động vì môi trường” và Ngày Môi trường thế giới năm 2018 gồm:

- Lễ phát động “Tháng hành động vì môi trường” kết hợp Trao Giải thưởng báo chí tài nguyên và môi trường lần thứ IV (tối ngày 4 tháng 6 năm 2018);

- Hội nghị triển khai Chương trình phối hợp giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực miền Trung và Tây Nguyên (sáng ngày 5 tháng 6 năm 2018);

Diễn đàn “Tăng cường hoạt động của báo chí trong quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu” tại Quy Nhơn, Bình Định (sáng ngày 4 tháng 6 năm 2018).

VEA

Bộ TN&MT: Lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP

đăng 17:58, 15 thg 5, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

(TN&MT) - Sáng 14/5 tại TP.HCM, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã tổ chức Hội thảo đánh giá 04 năm thực hiện Nghị định số 51/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển và lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP.

Tham dự Hội thảo có đại diện UBND cấp tỉnh, đại diện các Sở TN&MT thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển từ Quảng Bình đến Kiên Giang và TP.HCM, đại diện các đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT tại TP.HCM. Hội thảo do ông Tạ Đình Thi – Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo – Bộ TN&MT chủ trì.

BTNMT1Ông Tạ Đình Thi – Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo phát biểu khai mạc Hội thảo

Khai mạc Hội thảo, ông Tạ Đình Thi – Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo cho biết: Qua gần 04 năm triển khai Nghị định số 51/2014/NĐ-CP, đã góp phần hình thành công cụ pháp lý nhằm thực hiện các yêu cầu quản lý Nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh, quốc phòng trên các vùng biển của Việt Nam. Tuy nhiên, qua thực hiện Nghị định số 51/2014/NĐ-CP cũng đã bộc lộ một số các mặt hạn chế, bất cập gây khó khăn khi giao khu vực biển thuộc thẩm quyền đối với địa phương và Trung ương.

Năm 2017, Quốc hội đã thông qua Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019, trong đó, Quốc hội đã giao Chính phủ mà cụ thể là Bộ TN&MT xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành các Điều 44, 45, 46, 47 Luật Thủy sản. Như vậy, Bộ TN&MT nhận thấy, việc cần thiết sớm xây dựng ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP để phù hợp với công tác quản lý Nhà nước về biển và hải đảo trong giai đoạn mới.

Thực hiện Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ năm 2018, giao Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương và UBND cấp tỉnh có biển về thực hiện Tổng kết 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP. Ngay từ đầu quý 1/2018, Bộ TN&MT đã ban hành kế hoạch về việc hướng dẫn một số Bộ, ngành có liên quan và UBND cấp tỉnh có biển về đánh giá 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP.

Tính đến nay, đã có 01 Bộ và 24 tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương đã có báo cáo về Tổng kết 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Qua báo cáo của các Bộ, UBND cấp tỉnh ven biển cho thấy, việc cần thiết sớm xây dựng ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP để phù hợp với công tác quản lý Nhà nước về biển và hải đảo trong giai đoạn mới.

“Nhằm đảm bảo tiến độ và thời gian trình Chính phủ trong tháng 10/2018, hôm nay, Bộ TN&MT tổ chức Hội thảo với mong muốn các đại biểu tham dự Hội thảo này dành nhiều thời gian góp ý kiến cho 02 dự thảo: báo cáo Tổng kết 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP và Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP. Đây là cơ sở khoa học, giúp Bộ TN&MT hoàn thiện các nội dung chính trước khi trình Chính phủ thông qua trong năm 2018” – ông Tạ Đình Thi cho biết thêm.

btnmt2Ông Phan Thanh Tuyên – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khai thác Biển và Hải đảo báo báo cáo Tổng kết 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP

Cũng tại phiên khai mạc, ông Phan Thanh Tuyên – Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khai thác Biển và Hải đảo đã có báo cáo Tổng kết 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, thực hiện Điều 45 Luật biển Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2014.

Qua thực tiễn gần 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định số 51/2014/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý, môi trường và điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thúc đẩy kinh tế biển phát triển, có tác động tích cực, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các vùng biển được giao.

BTNMT3Quang cảnh Hội thảo

Trong đó, Bộ TN&MT, UBND một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển đã dành những nguồn lực cần thiết để đầu tư, xây dựng, mua sắm các phần mềm, thiết bị máy móc hiện đại, xây dựng cơ sở dữ liệu..., để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về giao khu vực biển, nhằm ngăn ngừa các nguy cơ giao biển chồng chéo, hạn chế phát sinh khiếu kiện trong tương lai, đảm bảo sử dụng tài nguyên biển tiết kiệm, hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, sau một thời gian thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP đã bộc lộ nhiều tồn tại, bất cập, hạn chế gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước. Ngày 06/02/2018, Bộ TN&MT đã ban hành Kế hoạch số 01/KH-BTNMT về Tổng kết 04 năm thi hành Nghị định số 51/2014/NĐ-CP; đồng thời chỉ ra các bất cập, tồn tại, hạn chế và đề xuất các nội dung để xây dựng và ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 51/2014/NĐ-CP phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế hiện nay, kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Tường Tú – Thục Vy

Tag: ô nhiễm môi trường, quan trắc môi trường, cấp phép xả thải, xử lý chất thải, gia hạn xả thải

Xử lý rác thải nguy hại bằng công nghệ hiện đại, đảm bảo vệ sinh môi trường

đăng 04:30, 7 thg 5, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

(Tin Môi Trường) - Rác thải y tế và rác thải công nghiệp nguy hại cần được xử lý triệt để nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường và sức khỏe cộng đồng. Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã ứng dụng công nghệ hiện đại ở các nhà máy xử lý rác thải y tế và công nghiệp nguy hại, đảm bảo công suất xử lý toàn bộ khối lượng rác nguy hại thải ra hàng ngày trên địa bàn.

Xử[-]lý[-]rác[-]thải[-]nguy[-]hại[-]bằng[-]công[-]nghệ[-]hiện[-]đại,[-]đảm[-]bảo[-]vệ[-]sinh[-]môi[-]trường[-]

Ảnh minh hoạ: IE

 
Hiện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 107 cơ sở bệnh viện bao gồm 21 bệnh viện trực thuộc Trung ương, 29 bệnh viện trực thuộc Sở Y tế thành phố, 23 bệnh viện quận, huyện và 34 bệnh viện tư nhân; 23 trung tâm y tế dự phòng trực thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện; 322 trạm y tế xã, phường. Hầu hết các cơ sở y tế công lập và các bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố đã được đầu tư hệ thống xử lý nước thải, trên 90% lượng nước thải y tế sau xử lý đạt quy chuẩn môi trường. Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải y tế nguy hại đã đi vào ổn định, đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường, đảm bảo sức khỏe cộng đồng. 
 
 Đề cập về quá trình xử lý rác thải y tế và rác thải công nghiệp nguy hại, ông Đoàn Khắc Hùng, Đội trưởng Công trường xử lý và tái chế chất thải Đông Thạnh (Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường đô thị Thành phố Hồ Chí Minh), cho biết: Từ năm 2011 đến nay, Công ty đưa vào vận hành nhà máy xử lý chất thải y tế, chất thải công nghiệp nguy hại tại công trường Đông Thạnh, xử lý rác thải bằng công nghệ đốt lò quay gồm 2 buồng sơ cấp và thứ cấp, lò có quy mô xử lý với công suất lớn, hệ thống xử lý khí thải và hệ thống kiểm tra phát thải tự động, có khả năng tận dụng nhiệt để phát điện. Công ty cũng xây dựng bãi chôn tro hợp vệ sinh theo các tiêu chuẩn hiện hành tại khu đất có diện tích 5.000 m2 để chôn lấp tro sau khi xử lý rác thải y tế và rác thải công nghiệp nguy hại. 
 
Theo ông Đoàn Khắc Hùng, rác thải y tế từ các bệnh viện, rác thải công nghiệp nguy hại từ các nhà máy, khu công nghiệp được thu gom và vận chuyển đến nhà máy, được đưa vào lò đốt bằngdây chuyền tự động. Các dụng cụ và xe vận chuyển rác thải y tế, rác thải công nghiệp nguy hại được xử lý vệ sinh ở khu bên cạnh nhà máy, những dụng cụ không đảm bảo hoặc hư hỏng sẽ được phân loại và không đưa vào sử dụng. 
 
Được biết, nhà máy xử lý chất thải y tế, chất thải công nghiệp nguy hại tại công trường Đông Thạnh hoạt động dưới sự giám sát và kiểm tra định kỳ, đột xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh. Qua các đợt kiểm tra của cơ quan chức năng cho thấy, chất lượng khí thải lò đốt, chất lượng nước thải sau khi qua hệ thống xử lý, chất lượng nước dưới đất đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. 
 
Ông Hà Trần Hiển Đức, Phó Giám đốc Chi nhánh Dịch vụ môi trường thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường đô thị Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Rác thải y tế và rác thải công nghiệp nguy hại được xử lý tại nhà máy công suất 21 tấn/ngày ở công trường Đông Thạnh, huyện Hóc Môn và nhà máy công suất 7 tấn/ngày ở Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân bằngcông nghệ đốt tĩnh. Mỗi ngày hai nhà máy xử lý khoảng 22 tấn rác y tế và rác thải công nghiệp trên địa bàn thành phố. Lượng rác thải y tế và rác thải công nghiệp nguy hại không có biến động lớn nên hai lò đốt đảm bảo xử lý toàn bộ khối rác nguy hại trên địa bàn thành phố. 
 
Về lâu dài, UBND thành phố đã chấp thuận cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường Đô thị thành phố xây dựng phương án di dời nhà máy về Khu liên hiệp xử lý chất thải Phước Hiệp, huyện Củ Chi, đồng thời cho phép chuyển đổi sang công nghệ xử lý tiên tiến - công nghệ đốt plasma. 
 
Nhằm đảm bảo an toàn trong thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại, Sở Tài nguyên và Môi trường đã đề xuất UBND thành phố lộ trình xã hội hóa xử lý rác y tế đối với cơ sở y tế tư nhân nhỏ lẻ và cơ sở y tế công lập. Theo đó, đối với việc xử lý rác thải y tế nguy hại, các cơ sở y tế tư nhân nhỏ lẻ, các công ty Dịch vụ Công ích quận, huyện thực hiện xã hội hóa từ năm 2018 trở đi. Đối với cơ sở y tế công lập, năm 2018 thành phố thực hiện xã hội hóa công đoạn thu gom, vận chuyển, ngân sách thành phố bao cấp công đoạn xử lý chất thải rắn y tế (chiếm khoảng 70% tổng chi phí). Năm 2019 sẽ thực hiện xã hội hóa công đoạn thu gom, vận chuyển và một phần công đoạn xử lý, thành phố bao cấp khoảng 40% tổng chi phí. Từ năm 2020 trở đi, công tác xã hội hóa được thành phố thực hiện toàn bộ đối với công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế công lập.
Nguyễn Xuân Dự

Tin môi trường: Ngày Môi trường thế giới năm 2018: “Giải quyết ô nhiễm nhựa và nilon”

đăng 04:22, 7 thg 5, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

(Tin Môi Trường) - Ngày Môi trường thế giới là sự kiện thường niên lớn nhất về bảo vệ môi trường được tổ chức vào ngày 5/6. Ngày môi trường thế giới năm nay là cơ hội để mỗi chúng ta, bằng nhiều cách giúp chống lại ô nhiễm chất thải nhựa trên toàn thế giới.

Tin[-]môi[-]trường:[-]Ngày[-]Môi[-]trường[-]thế[-]giới[-]năm[-]2018:[-]“Giải[-]quyết[-]ô[-]nhiễm[-]nhựa[-]và[-]nilon”

Chủ đề Ngày Môi trường thế giới năm 2018: “Giải quyết ô nhiễm nhựa và nilon”

 

​Theo báo cáo của Liên hợp quốc, mỗi năm chúng ta thải ra một khối lượng nhựa đủ để trải quanh Trái đất bốn lần, có khoảng 500 tỷ túi nhựa được tiêu thụ trên thế giới song phần lớn lượng rác thải nhựa không được chôn trong các bãi chôn lấp. Với nhịp độ sử dụng nhựa như hiện nay, sẽ có thêm 33 tỷ tấn nhựa được sản xuất vào năm 2050 và một phần lớn trong số đó sẽ nằm trong các đại dương nơi mà nó sẽ tồn tại trong nhiều thế kỷ. Với đặc tính bền vững trong tự nhiên, rác thải nhựa (chai nhựa, túi ni lông, hộp đựng đồ ăn, cốc,…) cùng với các chất gây ô nhiễm môi trường khác đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường, kinh tế, xã hội và sức khỏe con người. Chất thải nhựa trở thành một thách thức lớn đối với cộng đồng và xã hội.
 
Nhằm hưởng ứng sự kiện quan trọng này, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động vì môi trường” vào tối ngày 04/6 tại quảng trường Nguyễn Tất Thành, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
 
Năm nay, Lễ phát động với chủ đề “Giải quyết ô nhiễm nhựa và nilon” nhằm tuyên truyền, vận động, kêu gọi mọi người cùng nhau thay đổi thói quen cuộc sống hàng ngày để giảm gánh nặng ô nhiễm chất thải nhựa tới môi trường tự nhiên và sức khoẻ của chúng ta.
 
Để có những hành động, kết quả thiết thực, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hướng dẫn các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố, các đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội tổ chức chuỗi hoạt động hưởng ứng Tháng hành động vì môi trường, hưởng ứng ngày Môi trường thế giới trên phạm vi cả nước.
 
Theo đó, Bộ TN&MT đề nghị các cơ quan, đơn vị tập trung triển khai một số nội dung, giải pháp tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2018 của Chính phủ về nhiệm vụ giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018.
 
Tăng cường triển khai các giải pháp quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nhựa nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu rác thải nhựa vào môi trường tự nhiên, đặc biệt áp dụng các biện pháp nghiêm khắc đối với các cơ quan, doanh nghiệp vi phạm các quy định tại Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.
 
Đồng loạt tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới tạo thành chuỗi hoạt động thuộc "Tháng hành động vì môi trường" trên phạm vi cả nước. Tổ chức các hoạt động có sự tham gia trực tiếp của cộng đồng như: Chiến dịch "Nói không với sản phẩm nhựa dùng một lần"; Chiến dịch ra quân làm vệ sinh môi trường, thu gom xử lý chất thải, rác thải, khơi thông dòng chảy, nạo vét kênh mương, ao, hồ, hệ thống thoát nước; tổ chức các lớp học giáo dục môi trường, thực hiện các hoạt động thu gom và tái chế chất thải nhựa, túi ni lông tại các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, các khu dân cư…

Một số hoạt động hưởng ứng “Tháng hành động vì môi trường” và Ngày Môi trường thế giới năm 2018 gồm:

 
- Lễ phát động “Tháng hành động vì môi trường” kết hợp Trao Giải thưởng báo chí tài nguyên và môi trường lần thứ IV (tối ngày 4 tháng 6 năm 2018);
 
- Hội nghị triển khai Chương trình phối hợp giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu khu vực miền Trung và Tây Nguyên (sáng ngày 5 tháng 6 năm 2018);
 
- Diễn đàn “Tăng cường hoạt động của báo chí trong quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu” tại Quy Nhơn, Bình Định (sáng ngày 4 tháng 6 năm 2018).
BTV/Tinmoitruong.vn
Tag: ô nhiễm môi trường, quan trắc môi trường, cấp phép xả thải

95% dân số thế giới sống trong không khí ô nhiễm

đăng 02:12, 7 thg 5, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

Tiếp xúc với không khí độc hại ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu.
https://sites.google.com/site/quantracvaphantichmoitruong/tin-tuc/_draft_post-22/O-nhiem-moi-truong-070518.jpg


Phần lớn dân số thế giới hít thở không khí không sạch, trong đó, tình trạng ở nhiều nước đang phát triển rất nghiêm trọng, CNN đưa tin. Việc tiếp xúc lâu dài với không khí ô nhiễm khiến khoảng 6,1 triệu người chết năm 2016, theo báo cáo thường niên về tình trạng không khí toàn cầu của tổ chức Health Effects Institute (HEI).

Tiếp xúc với không khí độc hại có thể dẫn đến đột quỵ, đau tim, ung thư phổi và bệnh phổi mạn tính. Đây cũng là nguyên nhân gây chết người nhiều thứ 4 trong số các rủi ro về sức khỏe, đứng sau huyết áp cao, chế độ ăn uống và hút thuốc.

"Ô nhiễm không khí khiến rất nhiều người trên thế giới tử vong, bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp khó thở, người trẻ và người già phải nhập viện, không thể đi học hay đi làm, và nhiều trường hợp chết sớm. Báo cáo của chúng tôi cho thấy sự tiến triển ở một số nơi trên thế giới, nhưng vẫn còn những thách thức lớn để loại trừ tai họa này", Bob O'Keefe, phó chủ tịch HEI, cho biết.

Hơn 50% trường hợp tử vong do ô nhiễm không khí xảy ra ở Trung Quốc và Ấn Độ. Trung Quốc đã cải thiện phần nào tình trạng này. Trong khi đó, Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ là ba nước có mức ô nhiễm tăng nhanh nhất từ năm 2010.

Việc đốt nhiên liệu rắn để sưởi hoặc nấu ăn có thể gây ô nhiễm không khí trong nhà. Năm 2016, tổng cộng khoảng 2,5 tỷ người trên thế giới tiếp xúc với không khí ô nhiễm từ nhiên liệu rắn như củi hay than. Phần lớn họ sống ở các nước đang phát triển thuộc châu Á, châu Phi, và phải đối mặt với cả ô nhiễm không khí trong nhà cũng như ngoài trời.

Tác động kép này dẫn đến 1/4 trường hợp tử vong do ô nhiễm không khí ở Ấn Độ và gần 1/5 trường hợp tử vong tại Trung Quốc. Số người phụ thuộc vào nhiên liệu rắn giảm từ khoảng 3,6 tỷ năm 1990 xuống còn 2,4 tỷ người năm 2016 dù dân số thế giới tăng.

Nhiều nghiên cứu trước đây cũng cho thấy tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường khiến khoảng 1,7 triệu trẻ em dưới 5 tuổi thiệt mạng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) báo cáo vào tháng 4/2017. Khoảng 9 triệu người trên thế giới chết do các loại ô nhiễm như không khí, nước, đất hay hóa chất, theo nghiên cứu đăng trên tạp chí Lancet năm 2015.

Thu Thảo
Từ khóa : quan trắc môi trường, cấp phép xả thải, gia hạn xả thải

Một số quy định về đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ

đăng 03:38, 27 thg 4, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

Ngày 29/12/2017, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT quy định về đánh giá sức chịu tải, khả năng tiếp nhận nước thải của sông, hồ (Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong giai đoạn hiện nay.Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2018 và thay thế Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19/3/2009 quy định việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước (Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT).
​Sự cần thiết ban hành Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT

     Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012 có quy định về “xác định khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước và lập bản đồ phân vùng tiếp nhận nước thải của nguồn nước” là một trong các hoạt động điều tra cơ bản (Điều 12) và Bộ TN&MT có trách nhiệm tổ chức thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước (Điều 13). Cùng với đó, Luật BVMT số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014 cũng quy định về “điều tra, đánh giá sức chịu tải của sông; công bố các đoạn sông, dòng sông không còn khả năng tiếp nhận chất thải” là một trong các nội dung kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông (Điều 53 Luật BVMT).

     Mặt khác, Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT ngày 19/3/2009 của Bộ trưởng Bộ TN&MT quy định, việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước (Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT) được xây dựng ban hành căn cứ theo Luật Tài nguyên nước năm 1998. Thực tế hiện nay, những quy định của Thông tư số 02/2009/TT-BTNMT là chưa đủ cơ sở để quản lý hoạt động xả nước thải vào nguồn nước theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012. Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung các nội dung của số 02/2009/TT-BTNMT cho phù hợp với quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cũng như tình hình thực tếlà cần thiết và việc ban hành Thông tư số 76/2017/TT-BTNMTđã đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong giai đoạn hiện nay.

     Một số quy định củaThông tư số 76/2017/TT-BTNMT

      Theo Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT. việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồphải đảm bảo các nguyên tắctính hệ thống theo lưu vực sông và nguồn nước. Đối với nguồn nước là sông, suối, kênh, rạch (sông), khi thực hiện đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải phải được phân thành từng đoạn sông để đánh giá.Việc phân đoạn sông, xác định mục đích sử dụng nước, lựa chọn lưu lượng dòng chảy, lựa chọn thông số chất lượng nước mặt, thông số ô nhiễm của các nguồn nước thải để đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải đối với từng đoạn sông phải bảo đảm tính hệ thống theo từng sông, hệ thống sông. Việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải được thực hiện đối với từng thông số ô nhiễm. Việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ phải dựa trên đặc điểm mục đích sử dụng, khả năng tự làm sạch của nguồn nước, quy mô và tính chất của các nguồn nước thải hiện tại và theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

     Các nguồn nước phải đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước gồm có: Các sông thuộc danh mục lưu vực sông liên tỉnh, nội tỉnh, danh mục nguồn nước liên quốc gia, liên tỉnh, nội tỉnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; Các hồ thuộc danh mục nguồn nước liên tỉnh, nội tỉnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.Các nguồn nước không thuộc trường hợp quy định trên, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải xem xét, quyết định việc đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải trên cơ sở mức độ quan trọng của nguồn nước đối với phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu về bảo vệ tài nguyên nước, môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn giá trị văn hóa có liên quan đến nguồn nước.

     Việc phân đoạn sông để đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của sông được thực hiện trên cơ sở các căn cứ: Vị trí nhập lưu, phân lưu trên sông; Chức năng nguồn nước, mục đích sử dụng nước của sông; vị trí các công trình khai thác, sử dụng nước, xả nước thải; vị trí công trình hồ chứa, công trình điều tiết nước trên sông;Chiều dài xâm nhập mặn lớn nhất ứng với độ mặn 4,0‰ đối với các đoạn sông bị ảnh hưởng của thủy triều; Yêu cầu về bảo tồn, phát triển hệ sinh thái thủy sinh, giá trị lịch sử, văn hóa, du lịch, tín ngưỡng có liên quan đến nguồn nước; Đối với các sông liên quốc gia, liên tỉnh, ngoài việc căn cứ quy định nêu trên, còn phải căn cứ vào đường biên giới quốc gia, địa giới hành chính cấp tỉnh. 

     Các phương pháp đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của sông bao gồm:

     Phương pháp đánh giá trực tiếp: Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của sông được thực hiện trên cơ sở giới hạn tối đa của từng thông số, đánh giá theo quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, lưu lượng và kết quả phân tích chất lượng nguồn nước của đoạn sông. Phương pháp đánh giá trực tiếp được áp dụng đối với đoạn sông sau khi điều tra mà không có nguồn nước thải xả trực tiếp vào đoạn sông đó.

     Phương pháp đánh giá gián tiếp: Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của sông được thực hiện trên cơ sở giới hạn tối đa của từng thông số đánh giá theo quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, lưu lượng, kết quả phân tích chất lượng nguồn nước sông, lưu lượng và kết quả phân tích của các nguồn nước thải xả vào đoạn sông.

     Phương pháp đánh giá bằng mô hình: Đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của sông được thực hiện trên cơ sở giới hạn tối đa của từng thông số đánh giá theo quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, lưu lượng và kết quả phân tích chất lượng nguồn nước sông, lưu lượng và kết quả phân tích của các nguồn nước thải xả vào đoạn sông và quá trình gia nhập dòng chảy, biến đổi của các chất gây ô nhiễm.

     Thông số để đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của nguồn nước sông, hồ gồm có COD, BOD5, amoni, nitrat, photphat… Ngoài ra còn phải căn cứ vào các quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước mặt, quy chuẩn kỹ thuật về nước thải, mục đích sử dụng nước, quy mô, tính chất nước thải, yêu cầu bảo vệ nguồn nước, BVMT đối với từng đoạn sông, hồ thì cơ quan có thẩm quyền phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải xem xét, quyết định cụ thể các thông số khác để đánh giá cho phù hợp.

     Bộ TN&MT chịu trách nhiệm phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của các sông, hồ là nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia. Theo đó, Cục Quản lý tài nguyên nước chủ trì, phối hợp với Tổng cục Môi trường tham mưu, giúp Bộ TN&MT tổ chức điều tra, đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu thải của các sông hồ là nguồn nước liên tỉnh, liên quốc gia, lấy ý kiến của các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND cấp tỉnh, các cơ quan, đơn vị có liên quan về kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải và sức chịu tải của các sông, hồ; tổng hợp, hoàn thiện hồ sơ, trình Bộ TN&MT xem xét quyết định phê duyệt.

     UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu thải của các sông hồ là nguồn nước nội tỉnh. Theo đó, Sở TN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh tổ chức điều tra, đánh giá khả năng tiếp nhận, sức chịu tải của các sông, hồ là nguồn nước nội tỉnh, lấy ý kiến các Sở: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Giao thông vận tải, Xây dựng, Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các cơ quan, đơn vị có liên quan về kết quả đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của các sông, hồ; tổng hợp ý kiến, gửi Bộ TN&MT cho ý kiến; hoàn thiện hồ sơ, trình UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định phê duyệt.

     Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước là nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về BVMT, điều này được chứng minh từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn quản lý của Việt Nam. Việc ban hành Thông tư số 76/2017/TT-BTNMT là một yêu cầu cấp thiết và đáp ứng với yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần tăng cường các biện pháp giám sát và thực thi nhằm ngăn ngừa, hạn chế tình trạng không tuân thủ các quy định trong việc xả nước thải ra các sông, hồ gây ô nhiễm môi trường.

Hàn Ngọc Tài - Cục Quản lý chất thải và cải thiện môi trường, Tổng cục Môi trường
Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 3/2018
Tag: ô nhiễm môi trường, quan trắc môi trường, gia hạn xả thải, cấp phép xả thải


Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc

đăng 22:42, 22 thg 4, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

Rác trên bờ chất thành “núi”, rác dưới sông, rác trên mặt biển, rác trên khắp các tuyến đường,... là những gì mà Phú Quốc đang đối mặt.

Sáng 14-4, ông Huỳnh Văn Minh, Trưởng Ban Quản lý công cộng huyện Phú Quốc (Kiên Giang), cho biết do hết chỗ đổ rác nên phải đốt rác cũ, múc rác cũ sang một bên để lấy chỗ đổ rác mới, góp phần giải quyết tình trạng ùn ứ rác thải ở "đảo ngọc" này.

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 1.
Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 2.

Cả gia đình ông Nho hơn mười thành viên sống ở bãi rác

Cũng theo ông Minh, hiện tại Phú Quốc có 2 bãi rác. Trong đó, bãi rác Ông Lang thì đã đóng cửa nhiều tháng nay, chỉ nhận ít rác ở Gành Dầu chở về. Cũng mấy tháng nay, rác tập trung đổ ở bãi An Thới, nhưng bãi rác này đã quá tải, không thể tiếp nhận rác được nữa. Hiện tại, nhà máy xử lý rác thải Bãi Bổn thì đang đóng cửa để nâng cấp, bảo trì và bảo dưỡng, không tiếp nhận để xử lý rác thải. "Tới đây, phải gom rác ở bãi rác Ông Lang để có chỗ đổ rác, chứ không thì không có chỗ đổ" – ông Minh cho biết.

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 3.

Ông Danh Nho sống mưu sinh bằng nghề nhặt rác hơn 10 năm

Theo ghi nhận của Báo Người Lao Động Online, hiện tại 2 bãi rác chính ở Phú Quốc là An Thới và Ông Lang đã trở nên quá tải khiến rác chất thành đống cao như dãy núi, khiến nhiều người phải lo ngại cho tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra trong thời gian tới.

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 4.

Bãi rác Ông Lang đốt để lấy chỗ thu rác mới

Ông Danh Nho (43 tuổi, ở bãi rác An Thới), cho biết ông cùng chị em trong gia đình sống mưu sinh ở bãi rác này hơn 10 năm nay. Lúc đầu, chỉ có mấy xe đổ rác, nhưng giờ mỗi ngày có hàng chục chuyến xe chở rác đến đổ tại bãi khiến rác giờ chất thành đống. "Lúc đầu không chịu được mùi hôi, giờ sống lâu thành quen. Tuy nhiên, việc ăn uống rất khó khăn do ruồi nhiều lắm. Mỗi lần ăn món gì cũng phải ăn đồ nóng mới ít ruồi và đảm bảo sức khỏe" – ông Nho chia sẻ.

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 5.
Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 6.

Nhìn từ bên ngoài vào, bãi rác An Thới cao như núi

Ông Phạm Văn Nghiệp, Phó Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc, cho biết hiện tại thì nhà máy rác ở Bãi Bổn phải đóng cửa vì dây chuyền xử lý rác thải chưa đạt yêu cầu, dự kiến đến tháng 6 này mới nhận lại rác. Cũng theo ông Nghiệp, rác ở Phú Quốc sẽ đổ tại 2 bãi rác tạm đến tháng 6-2018, nhưng cũng không thể nào chứa nổi lượng rác đang thu gom mỗi ngày.

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 7.

Nhân viên công trình quản lý công cộng đang hàn che chắn bãi rác Ông Lang

Phú Quốc hiện tại mỗi ngày có hơn 150 tấn rác thải ra môi trường, đây là một con số khổng lồ đối với một hòn đảo.

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 8.

Một góc trên đường băng sân bay cũ ở Phú Quốc ngập rác

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 9.
Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 10.
Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 11.

Rác vương vãi khắp nơi trên cạn

Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 12.
Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 13.
Ớn lạnh với “núi rác” ở đảo ngọc Phú Quốc - Ảnh 14.

Rác tràn ngập trên mặt sông Dương Đông

Hơn 95% dân số thế giới hít thở không khí ô nhiễm

đăng 22:37, 22 thg 4, 2018 bởi Việt Bắc Môi trường

Theo báo cáo mới nhất của WHO, ô nhiễm không khí đã gây ra cái chết của hơn 6 triệu người mỗi năm vì các lý do như ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não,...

Ngày 17/4, Viện nghiên cứu Tác động Sức khỏe HEI có trụ sở tại Mỹ công bố báo cáo hàng năm về tình trạng ô nhiễm không khí. Theo đó, hơn 95% dân số thế giới đang hít thở bụi bẩn và các tác nhân gây bệnh hô hấp hàng ngày. 

Trước đó, báo cáo mới nhất từ tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết ô nhiễm môi trường đã tước đi sinh mạng của hơn 6,1 triệu người mỗi năm, trong đó hơn 1,7 triệu nạn nhân là trẻ em dưới 5 tuổi.

"Tình trạng không khí đã được cải thiện ở một số nước, tuy nhiên vẫn còn đó nhiều thách thức", ông Bob O'Keefe, phó chủ tịch viện HEI, nói. Đây là tổ chức phi lợi nhuận, độc lập với chính phủ và có chuyên môn trong việc nghiên cứu các tác động của không khí ô nhiễm đến sức khỏe con người.

Hon 95% dan so the gioi hit tho khong khi o nhiem hinh anh 1
Người đi đường tại bang Amritsar, Ấn Độ chịu tình cảnh khói bụi mù mịt. Ảnh: Getty.

CNN dẫn báo cáo của viện trên cho biết Ấn Độ và Trung Quốc chịu trách nhiệm với hơn 50% số ca tử vong vì ô nhiễm không khí trên toàn cầu. Năm 2016, hơn 1 triệu người Ấn Độ đã chết trẻ vì các bệnh liên quan đến hô hấp.

Trong khi Trung Quốc phần nào thành công trong nỗ lực hạn chế ô nhiễm không khí, tình trạng này tại Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh lại gia tăng chóng mặt từ năm 2010. Tại các quốc gia này, tác nhân gây ô nhiễm không khí không chỉ đến từ các khu công nghiệp mà còn từ việc đốt than củi để nấu ăn và sưởi ấm tại các hộ gia đình.

Đây đồng thời là tác nhân gây tử vong đứng thứ 4, sau các nguyên nhân như cao huyết áp, chế độ ăn uống không lành mạnh và hút thuốc lá. 

Năm 2016, WHO đưa ra số liệu cho thấy khu vực Đông Nam Á và bờ tây Thái Bình Dương trong đó có Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia... là những quốc gia bị ô nhiễm nặng nhất.

Một trong những mặt tệ hại nhất của không khí ô nhiễm đó là các phân tử nhỏ hơn 2,5 micrometre  - gọi tắt là PM2.5 - vì chúng có thể đi vào phổi và hệ tuần hoàn. Một mét khối không khí chứa nhiều hơn 10 microgram PM2.5 được cho là dưới tiêu chuẩn.

Tag: ô nhiễm không khí, quan trắc môi trường nước, quan trắc môi trường định kỳ

1-10 of 284